Soạn bài Chí Phèo (trang 23) - Kết nối tri thức
Soạn bài Chí Phèo (trang 23) - Kết nối tri thức
Với soạn bài Chí Phèo trang 23 → trang 35 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.
Soạn bài Chí Phèo (trang 23) - Kết nối tri thức
* Trước khi đọc
Câu hỏi 1 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Thế nào là định kiến xã hội. Các định kiến xã hội có thể ảnh hưởng đến cá nhân và cộng đồng như thế nào?
Trả lời:
- Định kiến xã hội là những thái độ bao hàm sự đánh giá một chiều và sự đánh giá đó là tiêu cực đối với cá nhân khác hoặc nhóm khác tuỳ theo sự quy thuộc xã hội riêng của họ. Nói cách khác, định kiến là một loại phân biệt đối xử bao gồm hai thành tố chính là nhận thức và ứng xử.
- Các định kiến xã hội có thể làm thay đổi cuộc sống, số phận của một con người, đẩy họ vào đường cùng. Đối với cộng đồng, định kiến xã hội sẽ hình thành một lối sống kém văn minh, sẽ khiến cho cộng đồng bị thụt lùi về suy nghĩ cũng như cách sống.
- Định kiến xã hội là những đánh giá, nhận xét mang tính chủ quan, phiến diện về một nhóm người hay sự việc, thường không dựa trên hiểu biết đầy đủ.
- Định kiến có thể khiến cá nhân bị hiểu sai, mất cơ hội phát triển và trở nên tự ti. Đối với cộng đồng, nó gây ra sự bất công, chia rẽ và cản trở sự tiến bộ xã hội.
Câu hỏi 2 (trang 23 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Có thể bạn đã từng nghe thấy người ta gọi tính cách hay cách ứng xử của một ai đó là “Chí Phèo”. Cách gọi ấy đã hàm ẩn sự đánh giá như thế nào đối với tính cách hay cách ứng xử này?
Trả lời:
Cách gọi “Chí Phèo” đã hàm ẩn tính cách và cách ứng xử của một người say rượu, chửi đổng và chuyên đi rạch mặt ăn vạ.
- Cách gọi một người là “Chí Phèo” hàm ẩn sự đánh giá tiêu cực về tính cách và cách ứng xử. Nó thường chỉ những người có lối sống côn đồ, hung hăng, say xỉn, thiếu kiểm soát bản thân và hay gây rối, làm hại người khác.
- Đồng thời, cách gọi này còn thể hiện sự coi thường, xa lánh của xã hội đối với những người bị xem là lệch chuẩn, mất nhân tính hoặc không còn giữ được phẩm chất tốt đẹp.
* Đọc văn bản
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc
1. Chú ý sự luân phiên của các điểm nhìn (điểm nhìn của người kể chuyện và nhân vật, điểm nhìn bên ngoài và bên trong).
Đoạn văn có sự thay đổi linh hoạt về điểm nhìn:
- Điểm nhìn của người kể chuyện:
+ Hắn vừa đi vừa chửi … cả làng Vũ Đại
+ Không ai lên tiếng cả … không ai biết …
- Điểm nhìn của dân làng Vũ Đại: Chắc nó trừ mình ra
- Điểm nhìn bên ngoài:
+ Hắn vừa đi vừa chửi … Không ai lên tiếng cả
+ Đã thế, hắn … không ai ra điều
+ Phải đấy … không ai biết.
- Điểm nhìn bên trong:
+ Tức thật … Tức chết đi được mất
+ Mẹ kiếp … nông nỗi này.
- Người kể chuyện linh hoạt chuyển đổi giữa điểm nhìn bên ngoài (miêu tả hành động, dáng vẻ Chí Phèo chửi) và điểm nhìn bên trong (đi sâu vào suy nghĩ, cảm xúc của hắn).
- Nhờ đó, nhân vật Chí Phèo hiện lên vừa đáng sợ (qua hành vi chửi bới, say rượu), vừa đáng thương (qua nỗi cô độc, khao khát được giao tiếp với con người).
2. Vì sao Chí Phèo lại khiến dân làng Vũ Đại e sợ khi hắn mới từ nhà tù trở về làng?
Chí Phèo lại khiến dân làng Vũ Đại e sợ khi hắn mới từ nhà tù trở về làng vì:
- Trông như thằng săng đá.
- Trông rất gớm chết: cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm.
- Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế.
Chí Phèo khiến dân làng Vũ Đại e sợ ngay khi vừa từ nhà tù trở về bởi diện mạo khác thường và dữ tợn của hắn.
- Hắn trông giống như một “thằng săng đá”, gợi cảm giác ngang tàng, bất cần.
- Ngoại hình trở nên đáng sợ với cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, khuôn mặt đen sạm và ánh mắt lúc nào cũng gườm gườm hung hãn.
- Trên cơ thể hắn, đặc biệt là ngực và hai cánh tay, chi chít những hình xăm rồng phượng, tướng cầm chùy, càng làm tăng vẻ dữ dằn, ghê gớm.
→ Chính ngoại hình ấy khiến Chí Phèo trở thành một kẻ xa lạ, đáng sợ trong mắt dân làng.
3. Người kể chuyện có hoàn toàn miêu tả cảnh Chí Phèo gây sự với người nhà bá Kiến chỉ từ điểm nhìn của mình?
Người kể chuyện có hoàn toàn miêu tả cảnh Chí Phèo gây sự với người nhà bá Kiến chỉ từ điểm nhìn của mình. Vì có sự tham gia của điểm nhìn nhân vật “Ôi! Cái gì thế này?” (Suy nghĩ của Chí Phèo).
- Người kể chuyện không hoàn toàn khách quan, mà có sự xen vào của cảm xúc và thái độ.
- Qua cách kể, ta thấy có sự xót xa, cảm thông cho số phận Chí Phèo, đồng thời phê phán xã hội.
4. Chú ý những chi tiết miêu tả cách “ứng phó” của bá Kiến đối với Chí Phèo và người nhà của mình.
Chi tiết miêu tả cách “ứng phó” của bá Kiến đối với Chí Phèo và người nhà của mình:
- Với Chí Phèo:
+ Hỏi thăm: Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế? Về bao giờ thế?
+ Mời vào nhà uống nước: Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
- Với người nhà:
+ Quát mấy bà vợ: Các bà đi vào trong nhà; đàn bà chỉ biết lôi thôi, biết gì?
+ Nháy mắt con một cái, quát: Lí Cường đâu! Tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước mau lên.
- Bá Kiến thể hiện sự khôn ngoan, lọc lõi và xảo quyệt khi đối phó với Chí Phèo.
- Ông ta không đối đầu trực tiếp mà dùng lời lẽ mềm mỏng, giả vờ thân thiện để xoa dịu và mua chuộc Chí Phèo.
- Qua đó, cho thấy bản chất thâm hiểm, gian xảo của tầng lớp thống trị.
5. Những cảm giác, ấn tượng gì đánh dấu thời điểm bắt đầu diễn ra sự thay đổi bên trong con người Chí Phèo?
Những cảm giác, ấn tượng đánh dấu thời điểm bắt đầu diễn ra sự thay đổi bên trong con người Chí Phèo:
- Mở mắt thì trời đã sáng lâu
- Mặt trời chắc đã cao, nắng bên ngoài rực rỡ
- Tiếng chim ríu rít
- Bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài
- Lòng mơ hồ buồn, hắn hơi rùng mình, hắn sợ rượu
- Thấy tiếng chim hót vui vẻ, thấy tiếng người đi chợ
- Sau khi gặp Thị Nở, Chí Phèo có những cảm giác mới lạ:
+ Nghe thấy âm thanh quen thuộc của cuộc sống (tiếng chim, tiếng người) mà trước đây không để ý.
+ Cảm thấy miệng đắng, lòng buồn, sợ rượu, nhận ra sự thay đổi trong bản thân.
- Những cảm giác ấy đánh dấu sự thức tỉnh của phần “người” trong Chí Phèo.
6. Điều gì ám ảnh Chí Phèo nhất khi nghĩ về cuộc đời của mình?
Chí Phèo trông thấy tuổi già của hắn, hắn ám ảnh nhất là sự cô độc khi nghĩ về cuộc đời mình.
Chí Phèo bị ám ảnh bởi tuổi già, bệnh tật và sự cô độc.
7. Lòng trắc ẩn của thị Nở dành cho Chí Phèo được thể hiện qua ý nghĩ và hành động nào?
Lòng trắc ẩn của thị Nở dành cho Chí Phèo được thể hiện qua ý nghĩ và hành động:
- Thị nghĩ: cái thằng liều lĩnh ấy kể ra cũng đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình.
- Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết.
- Thị thấy như yêu hắn: đó là cái lòng yêu của một người làm ơn, nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn.
- Thị nghĩ: bỏ hắn lúc này thì cũng bạc, dù sao cũng ăn nằm với nhau như vợ chồng.
- Thị muốn gặp Chí Phèo, phải cho hắn ăn gì mới được.
- Thị nấu cháo hành cho Chí.
Thị Nở thể hiện lòng trắc ẩn qua:
- Chăm sóc Chí Phèo khi hắn ốm, nấu cháo hành cho hắn ăn.
- Có những suy nghĩ thương cảm, muốn giúp đỡ hắn.
=> Điều đó cho thấy Thị là người giàu tình thương, dù vẻ ngoài xấu xí nhưng tâm hồn nhân hậu.
8. Người kể chuyện đặt điểm nhìn ở đâu khi miêu tả những cảm xúc của Chí Phèo lúc đón nhận bát cháo hành của thị Nở?
Người kể chuyện đặt điểm nhìn bên trong khi miêu tả những cảm xúc của Chí Phèo lúc đón nhận bát cháo hành của thị Nở:
- Hắn thấy ngạc nhiên, bâng khuâng.
- Hắn thấy vừa vui vừa buồn, và giống như thấy ăn năn.
- Hắn nhận ra những người suốt đời không ăn cháo hành, không biết rằng cháo rất ngon.
=> Miêu tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật.
- Người kể chuyện đặt điểm nhìn từ bên trong nhân vật Chí Phèo.
- Nhờ đó, diễn tả được những rung động tinh tế, sự xúc động và thức tỉnh lương tri của hắn.
9. Lời kể và điểm nhìn của người kể chuyện thể hiện thái độ như thế nào đối với Chí Phèo?
Thể hiện thái độ cảm thông và thương xót đối với Chí Phèo.
- Người kể chuyện thể hiện thái độ cảm thông, xót xa trước số phận bi kịch của Chí Phèo.
- Đồng thời, cũng phê phán xã hội đã đẩy con người vào con đường tha hóa.
10. Lí do bà cô thị Nở dứt khoát không cho cháu mình đến với Chí Phèo có thỏa đáng không?
Lí do bà cô thị Nở dứt khoát không cho cháu mình đến với Chí Phèo:
- Bà nhục cho cha ông nhà bà
- Bà thấy chua xót, uất ức, đổ cái uất ức lên cháu à
- Bà thấy cháu mình đĩ
- Bà thấy ai đời ngoài ba mươi còn đi lấy chồng
- Ai lại đi lấy thằng rạch mặt ăn vạ
=> Những lí do bà cô đưa ra không thỏa đáng vì những định kiến xã hội.
- Thị Nở bị chi phối bởi định kiến xã hội và lời bà cô, cho rằng Chí Phèo là kẻ không thể lấy làm chồng.
- Vì vậy, dù có tình cảm, Thị vẫn từ chối Chí Phèo một cách dứt khoát.
11. Tại sao tâm trí của Chí Phèo lúc này lại bị ám ảnh bởi hơi cháo hành?
Tâm trí của Chí Phèo lúc này lại bị ám ảnh bởi hơi cháo hành vì: Thị Nỡ nghe lời bà cô đã từ chối Chí. Chí Phèo đang trên con đường hoàn lương lại bị đẩy xuống hố sâu tuyệt vọng. Hắn vừa nhớ thị nhưng cũng vừa hận thị.
- Bát cháo hành là biểu tượng của tình người, sự chăm sóc và yêu thương lần đầu tiên Chí Phèo nhận được. Nó đánh thức trong hắn khát vọng được sống lương thiện, được làm người.
12. Việc Chí Phèo tìm đến nhà bá Kiến có phải hoàn toàn do hắn đã say như nhận xét trước đó của người kể chuyện không?
Việc Chí Phèo tìm đến nhà bá Kiến không phải hoàn toàn do hắn đã say như nhận xét trước đó của người kể chuyện bởi: Chính Bá Kiến là người đã đẩy hắn vào tù, biến hắn từ người nông dân canh điền thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Điều đó đã gián tiếp gây ra sự việc thị Nở từ chối hắn.
- Hành động đó không hoàn toàn do say rượu, mà xuất phát từ sự thức tỉnh ý thức và nỗi uất ức bị dồn nén.
- Hắn đến để đòi quyền làm người, đòi lương thiện, chứ không chỉ gây rối vô thức.
13. Đây có phải là những lời của một kẻ say không?
- Tao không đến xin năm hào
- Tao đã bảo tao không đòi tiền
- Tao muốn làm người lương thiện
- Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không! Chỉ có một cách … biết không!... Chỉ còn một cách là … cái này! Biết không!...
=> Đây là nỗi lòng của Chí Phèo nên không phải là lời của một kẻ say.
- Đây không phải lời của kẻ say, mà là tiếng kêu đau đớn, chân thật của một con người đã thức tỉnh.
- Nó thể hiện khát vọng mãnh liệt được trở lại làm người lương thiện.
14. Người kể chuyện có đưa ra lời bình luận hay đánh giá nào của mình về sự việc xảy ra ở làng Vũ Đại không?
Người kể chuyện không đưa ra lời bình luận hay đánh giá nào của mình về sự việc xảy ra ở làng Vũ Đại.
- Người kể chuyện không trực tiếp bình luận, mà để sự việc tự bộc lộ ý nghĩa.
- Tuy nhiên, qua cách kể, ta vẫn cảm nhận được thái độ phê phán xã hội và xót thương con người.
15. Ý nghĩa của hình ảnh cái lò gạch cũ là gì?
- Tả thực: Là hình ảnh của một chiếc lò nung gạch cũ, bị bỏ hoang vì không còn giá trị sử dụng. Là nơi Chí Phèo bị mẹ ruột vứt bỏ từ khi mới được sinh ra.
- Biểu tượng:
+ Gợi ra vòng luẩn quẩn của bi kịch Chí Phèo, bi kịch của những kiếp người khốn khổ bị áp bức, chà đạp và tước đi quyền được sống, được hạnh phúc.
+ “Bi kịch Chí Phèo” không phải là bi kịch của một cá nhân riêng biệt mà là một hiện tượng phổ biến mang tính quy luật trong xã hội xưa.
- Hình ảnh “lò gạch cũ” gợi vòng luẩn quẩn của số phận:
+ Nơi Chí Phèo bị bỏ rơi khi sinh ra.
+ Nay lại thấp thoáng hình ảnh một đứa trẻ có thể tiếp tục số phận ấy.
- Nó mang ý nghĩa biểu tượng cho vòng đời bế tắc, bi kịch lặp lại của những con người bị xã hội bỏ rơi.
* Sau khi đọc
Nội dung chính: Văn bản kể về cuộc đời của nhân vật Chí Phèo. Qua số phận bi thảm của Chí Phèo, Nam Cao lên án sâu sắc xã hội tàn bạo chà đạp nhân phẩm con người, vạch ra mối mâu thuẫn gay gắt không thể điều hòa ở nông thôn Việt Nam đương thời và tình trạng tha hóa phổ biến trong xã hội. Đồng thời Nam Cao thể hiện tư tưởng nhân đạo tốt đẹp, niềm tin vào bản chất lương thiện của con người.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc:
Câu 1 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Tóm tắt cốt truyện Chí Phèo theo trình tự thời gian cuộc đời nhân vật. Hãy đánh giá hiệu quả của việc phá vỡ trình tự này trong mạch trần thuật của tác phẩm.
Trả lời:
- Tóm tắt: Chí Phèo vốn sinh ra là một người không cha không mẹ được dân làng Vũ Đại truyền tay nhau nuôi nấng. Lớn lên Chí trở thành một anh canh điền khỏe mạnh làm việc cho nhà Bá Kiến. Vốn tính hay ghen Bá kiến đã đẩy Chí vào tù. Bảy tám năm sau khi ở tù trở về Chí bỗng trở thành một kẻ lưu manh hóa, sống bằng nghề rạch mặt ăn vạ khiến cả làng xa lánh, không ai thừa nhận sự xuất hiện của Chí. Chí Phèo trở về và một lần nữa trở thành công cụ tay sai cho Bá Kiến để đổi lấy tiền uống rượu. Chí Phèo gặp Thị Nở và hai người ăn nằm với nhau. Chí được Thị chăm sóc, bát cháo hành cùng những cử chỉ của Thị đã làm sống dậy khát vọng sống hoàn lương của Chí. Chí hy vọng rằng Thị sẽ là cầu nối để Chí có thể trở về với đời sống lương thiện. Thế nhưng Bà cô Thị Nở lại ngăn cản Thị Nở đến với Chí. Bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo bèn xách dao đi với mục đích ban đầu là đâm chết con khọm già nhà Thị nhưng sau lại rẽ vào nhà Bá Kiến đòi lương thiện. Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình.
- Việc phá vỡ trình tự thời gian trong mạch trần thuật của tác phẩm đã giúp cho nghệ thuật trần thuật kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp dẫn.
- Tóm tắt theo trật tự thời gian:
+ Bị bỏ rơi ở lò gạch cũ → được dân làng nuôi → lớn lên làm canh điền hiền lành.
+ Bị Bá Kiến đẩy vào tù → trở về làng với bộ dạng lưu manh, trở thành tay sai.
+ Gặp Thị Nở → thức tỉnh lương tri → bị từ chối → giết Bá Kiến và tự sát.
- Tuy nhiên, Nam Cao không kể theo trình tự này mà mở đầu bằng cảnh Chí Phèo chửi → tạo ấn tượng mạnh.
- Hiệu quả:
+ Gây tò mò, hấp dẫn người đọc.
+ Làm nổi bật bi kịch hiện tại của nhân vật.
+ Tạo điều kiện để lý giải quá khứ một cách sâu sắc hơn.
Câu 2 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân loại điểm nhìn trần thuật trong đoạn mở đầu theo các bình diện: điểm nhìn của người kể chuyện/ điểm nhìn của nhân vật (Chí Phèo, dân làng Vũ Đại); điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong. Nhận xét về tương quan và sự dịch chuyển giữa các điểm nhìn này, qua đó, chỉ ra những nét đặc sắc trong cách Nam Cao mở đầu câu chuyện.
Trả lời:
* Phân loại điểm nhìn:
- Điểm nhìn của người kể chuyện:
+ Hắn vừa đi vừa chửi … cả làng Vũ Đại
+ Không ai lên tiếng cả … không ai biết …
- Điểm nhìn của dân làng Vũ Đại: Chắc nó trừ mình ra
- Điểm nhìn bên ngoài:
+ Hắn vừa đi vừa chửi … Không ai lên tiếng cả
+ Đã thế, hắn … không ai ra điều
+ Phải đấy … không ai biết.
- Điểm nhìn bên trong:
+ Tức thật … Tức chết đi được mất
+ Mẹ kiếp … nông nỗi này.
* Nhận xét:
Điểm nhìn được nhà văn sử dụng linh hoạt, có sự luân chuyển. Các điểm nhìn này bổ sung, hỗ trợ cho nhau, giúp cho người đọc có cái nhìn đa chiều về khung cảnh mở đầu và cảm xúc của Chí Phèo với tiếng chửi của hắn.
* Cách mở đầu truyện ngắn: Cách giới thiệu trực tiếp nhân vật và mở đầu không theo trình tự thời gian mà đi thẳng vào giữa truyện => cách mở đầu thật độc đáo, ấn tượng, thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ những dòng đầu tiên.
- Có sự đan xen:
+ Điểm nhìn người kể chuyện: quan sát Chí Phèo chửi.
+ Điểm nhìn dân làng: “cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: ‘Chắc nó trừ mình ra!’”.
+ Điểm nhìn Chí Phèo (bên trong): hắn chửi vì không ai đáp lại → cô độc.
- Nhận xét:
+ Có sự dịch chuyển linh hoạt giữa bên ngoài – bên trong.
+ Thể hiện rõ nét bi kịch: bị xã hội cự tuyệt quyền làm người.
Câu 3 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo vào buổi sáng sau cuộc gặp gỡ với thị Nở đêm trước. Theo bạn, nhân tố nào mang tính quyết định đối với quá trình hồi sinh nhân tính của nhân vật? Vì sao?
Trả lời:
* Diễn biến tâm trạng Chí Phèo vào buổi sáng sau cuộc gặp gỡ với thị Nở đêm trước:
- Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, lần đầu tiên Chí Phèo thực sự “tỉnh”
+ Chợt nhận ra ở trong cái lều ẩm thấp của Chí sẽ thấy “chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”
+ Bâng Khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài
+ Tỉnh để cảm thấy miệng đắng và “lòng mơ hồ buồn”
+ Cảm thấy “sợ rượu” ⇒ đây là dấu hiệu của sự thức tỉnh rõ ràng nhất
+ Cảm nhận những thanh âm của cuộc sống: âm thanh của tiếng chim hót, tiếng người cười nói…
+ Hắn đủ tình để nhận thức hoàn cảnh của mình, để thấy mình cô độc
⇒ Cuộc gặp với Thị Nở đã giúp Chí Phèo thực sự tỉnh táo sau những cơn say triền miên
- Là niềm vui, hi vọng, ước mơ quay trở về làm người lương thiện của mình
+ Niềm hi vọng của thời trẻ quay trở lại: mong muốn một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải; nuôi lợn, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng
+ Khi thấy bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên và thấy “mắt mình như ươn ướt” ⇒ xúc động vì lần đầu tiên có người chăm sóc
+ Thấy Thị Nở có duyên, cảm thấy vừa vui vừa buồn
+ Hắn muốn làm nũng với Thị, thấy lòng thành trẻ con
+ Chí Phèo thèm lương thiện: Tình yêu của Thị Nở làm hắn nghĩ bản thân có cầu nối để trở về
+ Tình yêu với Thị Nở khiến hắn đủ hi vọng và mong ước có một gia đình: “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”
⇒ Gặp Thị Nở, Chí Phèo đã trải qua những cảm xúc chưa hề có trong đời, mang đến niềm vui, niềm hi vọng và mong ước trở về làm người lương thiện trỗi dậy
* Nhân tố mang tính quyết định đối với qua trình hồi sinh nhân tính của Chí Phèo là bát cháo hành. Vì: Bát cháo hành thể hiện tình yêu thương chân thành của Thị Nở dành cho Chí phèo. Nó là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện.
* Diễn biến tâm trạng Chí Phèo
- Trước hết, Chí Phèo tỉnh rượu sau một cơn say dài triền miên, đây là trạng thái hiếm hoi của hắn. Khi tỉnh dậy, hắn rơi vào cảm giác “bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài”, cho thấy ý thức bắt đầu hồi sinh sau những ngày sống vô thức.
- Hắn bắt đầu cảm nhận thế giới xung quanh bằng tất cả giác quan:
+ “Nghe thấy tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” → âm thanh của sự sống.
+ “Tiếng người đi chợ… tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo” → nhịp sống bình dị.
→ Những âm thanh vốn quen thuộc nhưng trước đây hắn không hề nhận ra, chứng tỏ hắn đã trở lại với đời sống con người bình thường.
- Đồng thời, Chí Phèo ý thức rõ về thân thể và tình trạng của mình:
+ “Miệng đắng, lòng mơ hồ buồn” → cảm giác trống rỗng, hụt hẫng.
+ “Chân tay không buồn nhấc” → dấu hiệu của sự suy kiệt.
→ Đây là bước chuyển từ vô thức sang tự nhận thức về bản thân.
- Từ đó, hắn hồi tưởng về quá khứ lương thiện: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ…”
→ Kí ức này rất quan trọng vì chứng tỏ bản chất lương thiện chưa mất hẳn, chỉ bị vùi lấp.
- Hắn bắt đầu ý thức sâu sắc về bi kịch hiện tại:
+ Nhận ra mình “già mà vẫn còn cô độc”.
+ Sợ “đói rét, ốm đau và cô độc” → nỗi sợ rất “người”.
→ Đây là bước chuyển quan trọng: từ một kẻ liều lĩnh không biết sợ → một con người biết lo cho tương lai.
* Chi tiết mang tính quyết định: Bát cháo hành
- Khi Thị Nở mang cháo đến, Chí Phèo vô cùng xúc động: “Trời ơi! Cháo mới thơm làm sao!” → Lần đầu tiên hắn được chăm sóc bằng tình người.
- Bát cháo hành có ý nghĩa:
+ Là biểu tượng của tình yêu thương giản dị mà chân thành.
+ Là “liều thuốc” đánh thức nhân tính.
- Sau khi ăn cháo, Chí Phèo thay đổi tận gốc nhận thức:
+ Hắn “thấy lòng thành trẻ con” → trở nên hiền lành.
+ Hắn muốn “làm hòa với mọi người”, muốn “làm người lương thiện”.
Câu 4 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân tích phản ứng tâm lí và hành động của Chí Phèo sau khi bị thị Nở từ chối chung sống. Người kể chuyện có đưa ra những phán đoán đáng tin cậy để người đọc hiểu được tâm lí và hành động của nhân vật không?
Trả lời:
* Phản ứng tâm lí và hành động của Chí Phèo sau khi bị thị Nở từ chối chung sống:
- Tình yêu bị ngăn cấm bởi bà cô thị Nở, bởi vậy, khi Thị Nở từ chối, Chí Phèo thất vọng và đau đớn:
+ “Ngẩn người”, “ngẩng mặt”: Thái độ biểu thị sự hiểu ra, nhận thức được tình cảnh của mình ⇒ đáng thương
+ Thoáng thấy hương cháo hành: hồi tưởng về tình yêu đã trải qua
+ Hành động: Nắm lấy tay Thị ⇒ mong muốn níu kéo hạnh phúc
+ Hắn tìm đến rượu rồi “ôm mặt khóc rưng rức”
⇒ Mong muốn trở về làm người lương thiện không còn nữa, Chí đau đớn, tuyệt vọng khi tình yêu của mình không trọn vẹn
- Cảm giác phẫn uất tuyệt vọng đến tột cùng
+ Mong muốn quay trở lại làm người lương thiện không thể thực hiện được, niềm phẫn uất trong Chí đẩy lên cao
+ Hắn quyết định đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”.
+ Nhưng “hắn không rẽ vào nhà thị Nở mà thẳng đường đến nhà Bá Kiến" và nói thẳng với Bá Kiến: niềm phẫn uất đã khiến Chí Phèo xác định đúng kẻ thù của mình
* Tác giả không đưa ra những phán đoán đáng tin cậy để người đọc có thể hiểu được tâm lí và hành động của nhân vật.
- Khi bị Thị Nở từ chối, Chí Phèo rơi vào đau đớn và tuyệt vọng, vì hi vọng làm người vừa được nhen lên đã bị dập tắt.
- Hắn nhận ra bi kịch của mình qua câu nói: “Ai cho tao lương thiện?”, thể hiện nỗi uất ức khi bị xã hội cự tuyệt.
- Chí Phèo tìm đến rượu nhưng “càng uống càng tỉnh”, cho thấy hắn ý thức rõ nỗi đau của mình.
- Trong tuyệt vọng, hắn xách dao đến nhà Bá Kiến để đòi quyền làm người, với tiếng kêu: “Tao muốn làm người lương thiện!”.
- Cuối cùng, hắn giết Bá Kiến rồi tự sát, kết thúc bi kịch và thể hiện sự phản kháng xã hội.
Câu 5 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Người kể chuyện bộc lộ thái độ như thế nào đối với Chí Phèo và thị Nở qua hệ thống điểm nhìn và lời kể?
Trả lời:
Thái độ của người kể chuyện với nhân vật:
- Bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với số phận bị đày đọa, lăng nhục, bị cự tuyệt quyền làm người của người lao động lương thiện.
- Cất lên tiếng kêu cứu thảm thiết và đầy phẫn uất cho người lao động lương thiện.
- Thái độ lên án gay gắt những thế lực tàn bạo đã gây nên tấn bi kịch đau thương cho người lao động.
- Thái độ trân trọng, nâng niu những nét đẹp của người nông dân.
- Đối với Chí Phèo:
+ Người kể chuyện thể hiện thái độ cảm thông sâu sắc, khi đi sâu vào nội tâm và khẳng định bản chất lương thiện của Chí Phèo, như chi tiết hắn xúc động trước bát cháo hành: “Trời ơi! Cháo mới thơm làm sao!”.
+ Đồng thời, người kể còn xót xa trước bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, thể hiện qua tiếng kêu đau đớn: “Ai cho tao lương thiện?”.
+ Qua đó, người kể gián tiếp phê phán xã hội đã đẩy Chí Phèo từ một người lương thiện trở thành kẻ lưu manh.
- Đối với Thị Nở:
+ Người kể chuyện thể hiện thái độ trân trọng và cảm thông, bởi Thị là người đã mang đến tình thương, giúp Chí Phèo thức tỉnh.
+ Dù Thị có ngoại hình xấu xí, người kể vẫn khẳng định Thị có tấm lòng nhân hậu, giàu tình người (qua hành động nấu cháo hành chăm sóc Chí Phèo).
+ Tuy nhiên, qua việc Thị nghe lời bà cô mà từ chối Chí Phèo, người kể cũng phê phán định kiến xã hội khắc nghiệt, đã ngăn cản con đường hoàn lương của hắn.
Câu 6 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nhận xét về điểm nhìn và giọng điệu trần thuật ở đoạn kết truyện ngắn khi Chí Phèo tìm đến nhà bá Kiến lần cuối và phản ứng của dân làng Vũ Đại về cái chết của hai nhân vật này. Theo bạn, cái chết của Chí Phèo có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời:
- Điểm nhìn: Có sự thay đổi, đan xen giữa điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của người dân làng Vũ Đại.
- Giọng điệu: tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở đời sống, giọng văn hoá đời sống. Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, vừa là ngôn ngữ của nhân vật, nhiều giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc sắc.
- Ý nghĩa cái chết của Chí Phèo:
+ Đó là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống vùng lên, tuy manh động, tự phát, liều lĩnh, tuyệt vọng nhưng không phải là hành động lưu manh.
+ Cái chết của Chí đáng thương, là lời tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy người nông dân vào con đường bần cùng hóa, lưu manh hóa, đẩy họ tới cái chết bi thảm. Xã hội ấy không có chỗ cho người lầm lạc trở về cuộc sống lương thiện.
+ Thể hiện quan niệm hiện thực nhạy bén của Nam Cao: tình trạng xung đột giai cấp ở nông thôn Việt Nam hết sức gay gắt, quyết liệt, không thể xoa dịu được, chỉ có thể được giải quyết bằng những biện pháp quyết liệt.
- Về điểm nhìn trần thuật: Người kể chuyện sử dụng điểm nhìn linh hoạt, kết hợp giữa bên ngoài và bên trong nhân vật.
+ Ở bên ngoài, câu chuyện được nhìn qua dân làng Vũ Đại, họ chứng kiến sự việc và bàn tán về cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến.
+ Ở bên trong, người kể đi sâu vào tâm lí Chí Phèo, giúp người đọc hiểu rằng hành động của hắn không phải bột phát, mà là kết quả của quá trình thức tỉnh và dồn nén đau khổ.
→ Nhờ sự kết hợp này, cái chết của Chí Phèo hiện lên vừa khách quan, vừa giàu chiều sâu tâm lí.
- Về ý nghĩa cái chết của Chí Phèo:
+ Cái chết thể hiện bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, khi Chí Phèo ý thức được khát vọng lương thiện nhưng không thể thực hiện, qua câu nói: “Ai cho tao lương thiện?”.
+ Đây là hành động phản kháng mạnh mẽ, khi Chí Phèo giết Bá Kiến – kẻ đại diện cho thế lực đã đẩy hắn vào con đường tha hóa.
+ Đồng thời, cái chết cũng là sự giải thoát đau đớn, vì Chí Phèo không còn con đường nào để quay lại làm người lương thiện.
+ Cái kết còn mang ý nghĩa tố cáo xã hội: Xã hội thực dân phong kiến đã đẩy con người vào bước đường cùng; Không cho họ cơ hội hoàn lương.
+ Hình ảnh “cái lò gạch cũ” ở cuối truyện gợi ra vòng luẩn quẩn, cho thấy bi kịch có thể tiếp tục lặp lại → tăng tính ám ảnh.
Câu 7 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): So sánh và nhận xét về đoạn kết của hai truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) và Vợ nhặt (Kim Lân).
Trả lời:
* Đoạn kết truyện Vợ nhặt: Trong bữa cơm ngày đói, người vợ nhặt kể về việc phá kho thóc Nhật của người dân miền ngược. Hiện lên trong tâm trí anh Tràng là hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ.
* Đoạn kết truyện Chí Phèo: Cái chết của Chí Phèo, Bá Kiến và hình ảnh cái lò gạch cũ hiện lên trong tâm trí của thị Nở với suy nghĩ “Nói dại, nếu mình chửa, bây giờ hắn chết rồi thì làm thế nào”?
* So sánh:
- Giống nhau:
+ Đều mở ra một cuộc đời mới
+ Đều thể hiện được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn.
- Khác nhau:
+ Truyện ngắn Vợ nhặt: Hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ gợi mở về một tương lai tươi sáng cho tất cả các nhân vật. Đánh thức một điều gì đó thật mới mẻ bên trong Tràng. Anh đã bắt đầu bước gần hơn với con đường cách mạng, bắt đầu có những nhận thức về hành động của bản thân.
→ Chỉ có đi theo cách mạng, đứng lên đấu tranh chống lại cái bạo tàn, áp bức mới có thể bảo vệ được hạnh phúc và sự bình yên của những người thân yêu.
Truyện ngắn Chí Phèo: Mở ra bi kịch mới: Nếu Thị Nở có con với Chí Phèo, số phận của đứa trẻ sẽ lặp lại những đau khổ, bất hạnh của bố mẹ. Gợi liên tưởng về cái vòng luẩn quẩn của bi kịch Chí Phèo: Chí Phèo chết đi nhưng bi kịch Chí Phèo vẫn còn đó, áp bức, bạo tàn vẫn còn thì vẫn còn những cảnh đời khốn cùng như Chí.
* Giống nhau:
- Cả hai tác phẩm đều phản ánh hiện thực xã hội trước Cách mạng, nơi người nông dân sống trong cảnh đói nghèo, khổ cực.
- Đều thể hiện giá trị nhân đạo, cảm thông với số phận con người và khẳng định khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.
- Kết thúc đều để lại ấn tượng sâu sắc, giàu ý nghĩa đối với người đọc.
* Khác nhau:
- Chí Phèo:
+ Kết thúc mang tính bi kịch, bế tắc khi Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát.
+ Nhấn mạnh số phận con người bị tha hóa và bị cự tuyệt quyền làm người.
+ Gây cảm giác đau xót, ám ảnh.
- Vợ nhặt:
+ Kết thúc mang tính mở, hướng tới hi vọng, với hình ảnh “lá cờ đỏ”.
+ Thể hiện niềm tin vào tương lai, vào sự đổi thay của cuộc sống.
+ Gợi cảm giác ấm áp, lạc quan.
Câu 8 (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Hệ thống hóa những nét đáng chú ý trong nghệ thuật kể chuyện của Nam Cao ở truyện ngắn này trên các phương diện: người kể chuyện, điểm nhìn và lời trần thuật.
Trả lời:
- Người kể chuyện: Người kể chuyện ở ngôi thứ ba – người kể chuyện toàn tri, thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật.
- Điểm nhìn: Điểm nhìn có sự thay đổi linh hoạt, luân phiên. điểm nhìn của người kể chuyện/ điểm nhìn của nhân vật; điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong.
- Lời trần thuật: kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp dẫn.
- Người kể chuyện: Ngôi thứ ba, giấu mình nhưng am hiểu sâu sắc nội tâm nhân vật, đặc biệt là Chí Phèo; vừa giữ tính khách quan vừa thể hiện thái độ cảm thông và phê phán xã hội.
- Điểm nhìn: Linh hoạt, kết hợp giữa bên ngoài (hành động, ngoại hình) và bên trong (tâm lí), đồng thời đan xen điểm nhìn của người kể, nhân vật và dân làng → tạo cái nhìn đa chiều.
- Lời trần thuật: Kết hợp kể – tả – phân tích – bình luận; ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi; giọng điệu đa dạng (mỉa mai, châm biếm, xót xa, cảm thông).
* Kết nối đọc – viết
Bài tập (trang 35 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về chi tiết bát cháo hành của thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo.
Đoạn văn tham khảo:
Bát cháo hành là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm Chí Phèo góp phần thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm. Bát cháo ấy không những giúp Chí thoát khỏi trận ốm “thừa sống thiếu chết” mà hơn hết, nó là liều thuốc khai sáng cho quãng đời tội lỗi của Chí Phèo. Có thể nói, bát cháo hành ấy giống như một liều thuốc thần kỳ giải rượu cho Chí sau một cơn say dài dằng dặc. Cả một cuộc đời hơn bốn mươi năm, lần đầu tiên Chí được ăn cháo hành, lần đầu tiên được người khác cho một thứ. Chí sung sướng hạnh phúc khi cảm nhận được vị ngọt của tình yêu qua bát cháo hành của Thị. Vì vậy, bát cháo hành của Thị chất chứa tình yêu thương chân thành đã biến Chí từ một thằng lưu manh chuyên rạch mặt ăn vạ thành một anh nông dân lương thiện với biết bao cảm xúc, nghĩ suy của một con người khát khao được trở về với xã hội loài người. Bát cháo đầy tình yêu thương của Thị đã giúp Chí rũ bỏ lốt quỷ để trở lại làm người.
Chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo là một chi tiết nhỏ nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm. Trước hết, bát cháo hành là biểu tượng của tình người giản dị mà chân thành. Trong cuộc đời đầy những trận say và những cơn chửi rủa, đây là lần đầu tiên Chí Phèo được một người chăm sóc bằng sự quan tâm thực sự. Vì thế, khi ăn cháo, hắn xúc động thốt lên: “Trời ơi! Cháo mới thơm làm sao!”, cho thấy sự thức tỉnh của cảm xúc và nhân tính. Không chỉ vậy, bát cháo hành còn là “liều thuốc” đánh thức phần người bị vùi lấp trong Chí Phèo, khiến hắn nhớ về quá khứ lương thiện, khao khát có một mái ấm gia đình và mong muốn “làm người lương thiện”. Tuy nhiên, chi tiết này cũng góp phần làm nổi bật bi kịch của nhân vật, bởi chính khi khát vọng sống được nhen lên thì cũng là lúc nó bị dập tắt khi Thị Nở từ chối hắn. Như vậy, bát cháo hành không chỉ là biểu tượng của tình thương mà còn là điểm nút quan trọng trong diễn biến tâm lí của Chí Phèo, qua đó thể hiện niềm tin của Nam Cao vào khả năng hồi sinh nhân tính của con người, dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất.