Soạn bài Sống, hay không sống – đó là vấn đề (trang 126) - Kết nối tri thức

3,596 từ~18 phút đọc

Soạn bài Sống, hay không sống – đó là vấn đề (trang 126) - Kết nối tri thức

Với soạn bài Sống, hay không sống – đó là vấn đề trang 126, 127, 128, 129, 130, 131 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.

Soạn bài Sống, hay không sống – đó là vấn đề (trang 126) - Kết nối tri thức

* Trước khi đọc

Câu hỏi (trang 126 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Theo bạn, việc ý thức về tình trạng bi đát của hoàn cảnh có khi nào ngăn trở con người hành động quyết đoán trong cuộc đời?

Trả lời:

Theo em, việc ý thức về tình trạng bi đát của hoàn cảnh có ngăn trở con người hành động quyết đoán trong cuộc đời. Đối với những người này hành động của họ sẽ thiếu tính quyết đoán, mang cảm xúc cá nhân, thiếu lí trí hơn bình thường.

Việc ý thức mình bị ràng buộc bởi hoàn cảnh có thể khiến con người trở nên tự ti, bi quan và thiếu niềm tin vào bản thân. Khi quá ám ảnh bởi khó khăn, họ dễ chần chừ, do dự, không dám hành động quyết đoán. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận đúng, hoàn cảnh không phải là rào cản mà còn có thể trở thành động lực để con người vươn lên.

* Đọc văn bản

Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc

1. Lời thoại của các nhân vật trước khi Hăm-lét xuất hiện cho thấy điều gì về bầu không khí xã hội bao quanh chàng?

Bầu không khí xã hội bao quanh Hăm-lét: Mọi người người xung quanh chàng đều cố gắng dò xét xem chàng có thật điên khùng hay chỉ giả điên.

Lời thoại cho thấy bầu không khí cung đình đầy nghi kị, giả dối và toan tính. Vua và hoàng hậu không thực sự quan tâm đến Hăm-lét mà tìm cách dò xét, điều khiển chàng. Những người xung quanh như Rô-đen-cran, Ghin-đơn-xtơn cũng chỉ đóng vai trò công cụ. Điều đó phản ánh một xã hội tha hóa, mất niềm tin, tạo áp lực tâm lí nặng nề lên Hăm-lét.

2. Sự xung đột với cả thời đại đã để lại dấu ấn như thế nào trong nội tâm Hăm-lét.

Nội tâm Hăm-lét: Tràn ngập sự căm phẫn và chán ghét cuộc sống, suy nghĩ duy nhất của chàng chỉ là trả thù. Tuy nhiên, chàng vẫn đủ sáng suốt để đề phòng trường hợp đây là một linh hồn tà ác hiện lên để xúi giục chàng làm điều bậy, hòng kéo linh hồn của chàng xuống Địa Ngục.

Xung đột khiến Hăm-lét rơi vào trạng thái giằng xé nội tâm sâu sắc: giữa sống – chết, hành động – do dự. Chàng ý thức rõ sự mục nát của xã hội nhưng lại đau đớn, cô độc, hoài nghi, dẫn đến suy tư triết lí và chần chừ trong hành động.

3. Chú ý sự khác biệt giữa lời Hăm-lét nói với Ô-phê-li-a trong độc thoại và đối thoại.

Lời nói của Hăm-lét với Ô-phê-li-a trong độc thoại và đối thoại có sự đối lập với nhau.

- Lời độc thoại cho thấy trong tâm trí của Hăm-lét đang có những suy nghĩ, đấu tranh giữa việc sống và chết; phân vân bản thân nên “chịu đựng tất cả những viên đá, những mũi tên của số mệnh phũ phàng, hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại với sóng gió của biển khổ”.

- Lời đối thoại, Hăm-lét đã dùng nhiều lý lẽ để che mắt những kẻ đang theo dõi chàng: Hăm-lét đã đặt ra nhiều câu hỏi, phản bác với lời nói của Ô-phê-li-a để những kẻ đang theo dõi không tin vào lời lẽ của nàng nữa, từ đó che mắt những kẻ đang theo dõi. 

- Trong độc thoại, Hăm-lét bộc lộ nỗi đau thật, suy tư sâu sắc, thể hiện tâm trạng chân thành.

- Trong đối thoại, lời lẽ trở nên lạnh lùng, mỉa mai, thậm chí phũ phàng, nhằm che giấu cảm xúc và có thể để đánh lạc hướng người khác.

→ Sự khác biệt cho thấy Hăm-lét đang giả điên và bị giằng xé giữa tình cảm cá nhân và hoàn cảnh.

4. Chú ý việc thể hiện ý thức của Hăm-lét về mối quan hệ giữa nhan sắc và đức hạnh trong thời đại đảo điên.

Theo Hăm-lét, nhan sắc và đức hạnh là điều nghịch lí. Thế nhưng hiện tại, nhan sắc có mãnh lực biến đức hạnh thành phóng đãng, nhưng đức hạnh không thể nào kép nhan sắc vào khuôn khổ nết na.Hăm-lét là một người mang nội tâm sâu sắc, không dễ dàng chịu khuất phục trước số phận, muốn đấu tranh để vượt ra khỏi chính mình, vượt ra khỏi mọi nỗi khổ nhục để giải phóng bản thân, tìm ra sự thật đằng sau cái chết của cha.

Hăm-lét cho rằng trong xã hội đương thời, nhan sắc có thể làm tha hóa đức hạnh, còn đức hạnh thì khó giữ được sự trong sạch. Điều này phản ánh cái nhìn bi quan về đạo đức xã hội, nơi các giá trị bị đảo lộn, cái đẹp và cái thiện không còn thống nhất.

* Sau khi đọc

Nội dung chính: Vở kịch kể về Hăm-lét được hồn ma của cha về báo cho biết cái chết của ông không phải do rắn độc cắn như triều đình loan báo mà do vua Clô-đi-út đầu độc. Chính vì vậy, Hăm-lét giả điên để muốn tra xét rõ sự thật đồng thời để đánh lạc hướng, hòng che mắt kẻ thù. Dù cho Clô-đi-út  và lũ tay sai cố gắng dò xét xem thái tử có thật điên khùng hay chỉ là giả điên. Hắn đã bố trí cho Ô-phê-li-a, hoàng hậu lần lượt gặp Hăm-lét để theo dõi, dò xét chàng. Trong cuộc đối thoại với người mình yêu, thái tử đã thành công giả điên, nhưng khi gặp mẹ thì Hăm-lét không kìm được nỗi tức giận, nổi nóng bộc lộ tâm trạng thật của mình.

Soạn bài Sống, hay không sống – đó là vấn đề | Hay nhất Soạn văn 11 Kết nối tri thức

Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc

Câu 1 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Xác định ý nghĩa lời thoại của các nhân vật trước khi Hăm-lét xuất hiện?

Trả lời:

Các lời thoại trước khi Hăm-lét xuất hiện cho thấy được bối cảnh của vở kịch. Nhà vua, hoàng hậu đều cố gắng tra xét xem Hăm-lét có thật sự bị điên hay không. 

Lời thoại trước khi Hăm-lét xuất hiện cho thấy một bầu không khí cung đình giả dối, đầy nghi kị và toan tính. Các nhân vật tìm cách dò xét, lợi dụng nhau, phản ánh xã hội tha hóa, mất niềm tin.

Câu 2 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nêu nhận xét chung về tâm trạng của Hăm-lét thể hiện qua lời độc thoại. Theo mạch suy tưởng của Hăm-lét, lời độc thoại có thể chia làm mấy phần, nội dung từng phần là gì?

Trả lời:

- Qua lời độc thoại, Hăm-lét là một người mang nội tâm sâu sắc, không dễ dàng chịu khuất phục trước số phận, muốn đấu tranh để vượt ra khỏi chính mình, vượt ra khỏi mọi nỗi khổ nhục để giải phóng bản thân, tìm ra sự thật đằng sau cái chết của cha.

- Lời độc thoại có thể chia làm 2 phần.

+ Phần 1: Suy nghĩ, đấu tranh của Hăm-lét về việc sống và chết.

+ Phần 2: Phân vân bản thân mình nên chịu đựng hay vùng lên đấu tranh.

- Qua lời độc thoại, Hăm-lét hiện lên với tâm trạng đau đớn, bế tắc, suy tư triết lí sâu sắc nhưng đầy mâu thuẫn.

- Có thể chia mạch suy nghĩ thành 2 phần:

+ Phần 1: Suy nghĩ, đấu tranh của Hăm-lét về việc sống và chết.

+ Phần 2: Phân vân bản thân mình nên chịu đựng hay vùng lên đấu tranh.

Câu 3 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Có thể xác định cách hiểu của Hăm-lét về “sống” và “không sống” như thế nào?

Trả lời:

Theo Hăm-lét “sống” và “không sống” có nghĩa là:

- Chịu đựng tất cả hay là cầm vũ khí đứng lên.

- Chết là ngủ.

=> Đây là xung đột về mặt nội tâm của của nhân vật Hăm-lét, đó là sự mâu thuẫn giữa việc đấu tranh để bảo vệ chính mình trước hiện thực xấu xa hay cứ sống chịu đựng với lý tưởng nhân văn.

- Hăm-lét hiểu:

+ “Sống” là tiếp tục chịu đựng mọi bất công, đau khổ của cuộc đời.

+ “Không sống” là chết để giải thoát khỏi những đau đớn ấy.

- Tuy nhiên, chàng không nhìn cái chết một cách đơn giản mà nhận ra đó là một lựa chọn đầy mâu thuẫn, vì nó vừa là giải thoát vừa là điều đáng sợ.

Câu 4 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nêu lí do khiến Hăm-lét cho rằng “chết” đáng “mong muốn” mà cũng là “điều khó khăn” buộc người ta phải “ngừng lại mà suy nghĩ”.

Trả lời:

Hăm-lét cho rằng “chết” đáng “mong muốn” mà cũng là “điều khó khăn” buộc người ta phải “ngừng lại mà suy nghĩ” vì chàng đang có những suy nghĩ, đấu tranh giữa việc sống và chết; phân vân bản thân nên chịu đựng hay là cầm vũ khí vùng lên. Theo Hăm-lét sống là phải chiến đấu để tiêu diệt khổ đau, khôi phục lại trật tư làm cho cái thời đại đảo điên tan tác trở nên ngay ngắn, vững vàng. 

Hăm-lét cho rằng “chết” đáng mong muốn vì giống như “một giấc ngủ” giúp con người chấm dứt mọi đau khổ. Nhưng cái chết lại trở thành “điều khó khăn” vì sau “giấc ngủ” ấy có thể là những “giấc mơ” không biết trước → tượng trưng cho thế giới sau cái chết đầy bí ẩn. Chính sự không chắc chắn đó khiến con người phải dừng lại suy nghĩ và không dám hành động.

Câu 5 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân tích ý thức của Hăm-lét về những “khổ nhục trên cõi thế” mà con người phải gánh chịu. Theo bạn, Hăm-lét sợ “nỗi khổ nhục” gì ở cõi “mênh mang sau khi chết”?

Trả lời:

- Ý thức của Hăm-lét về những “khổ nhục trên cõi thế” mà con người phải gánh chịu là: Hăm-lét đã thể hiện thái độ khinh thường và chán ghét xã hội đương thời. Con người phải chịu đựng những roi vọt, khinh khi của thời đại, sự áp bức của kẻ bạo ngược, hống hách của kẻ kiêu căng, những nỗi giày vò của tình yêu tuyệt vọng,…  Hăm-lét luôn trăn trở, suy nghĩ làm sao để tìm ra sự thật, liệu chàng có bị cuốn vào những thói xấu xa hay không. Dù ở hoàn cảnh nào, chàng vẫn luôn giữ lấy lý trí và niềm tin của mình.

- Những “nỗi khổ nhục” ở cõi “mênh mang sau khi chết” khiến Hăm-lét sợ những mơ nào đó sẽ tới, làm cho chàng phải suy nghĩ và chính điều đó đã gây ra tai họa cho cuộc sống dày đặc này. 

- Hăm-lét ý thức rất rõ những “khổ nhục” mà con người phải chịu đựng trong cuộc sống, như: “đòn roi của số mệnh”, “sự áp bức của kẻ quyền thế”, “nỗi nhục của tình yêu bị khinh rẻ”, “sự trì trệ của công lí”, “sự hỗn xược của kẻ vô lại đối với người xứng đáng”. Những hình ảnh này cho thấy một xã hội bất công, nơi cái ác lấn át cái thiện.

- Từ đó, Hăm-lét đặt ra vấn đề: con người hoàn toàn có thể giải thoát bằng cái chết, nhưng lại không làm như vậy. Nguyên nhân là vì con người sợ “những giấc mơ” sau cái chết – tức là sợ thế giới chưa biết ở bên kia.

- Hăm-lét cho rằng chính “nỗi sợ điều chưa biết” này khiến con người “thà chịu đựng những nỗi khổ đã quen còn hơn là bay đến những nỗi khổ khác mà ta chưa biết”.

→ Như vậy, “nỗi khổ nhục” do “số mệnh sau khi chết” chính là nỗi sợ hãi mơ hồ về cái chết, và nó khiến con người cam chịu thực tại đau khổ.

Câu 6 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Hăm-lét đã nhận thức như thế nào về nguyên nhân tình trạng do dự, không thể hành động quyết đoán của mình? Dựa vào phần tóm tắt vở kịch, hãy cho biết Hăm-lét đã làm gì sau khi nhận thức được bản chất vấn đề?

Trả lời:

- Nhận thức của Hăm-lét: Sự đấu tranh về ý nghĩa của sự sống và cái chết. Nhìn nhận về thực tại cuộc sống, về sự bất công tàn bạo và đầy rẫy những thủ đoạn của lòng người, Hamlet đã lựa chọn con đường “cầm vũ khí đứng lên” bằng kế hoạch chàng đã vạch sẵn. Nhưng vừa bắt đầu hành động, Hăm-lét đã hiểu ngay rằng, chàng đang tạo ra cái ác, chứ không làm được điều thiện. 

- Sau khi nhận thức được vấn đề Hăm-lét dặn bạn mình kể cho người đời biết rõ ngọn ngành câu chuyện và trăng trối việc bàn giao ngai vàng cho Pho-tin-brat. 

- Hăm-lét nhận thức được nguyên nhân khiến mình do dự là do “ý thức làm chúng ta trở nên hèn nhát”, nghĩa là càng suy nghĩ nhiều thì con người càng mất đi sự quyết đoán.

- Chàng còn chỉ ra rằng “màu sắc tự nhiên của quyết tâm bị làm cho bạc nhược”, cho thấy suy tư đã làm tê liệt hành động, biến ý chí thành do dự.

- Tuy nhiên, theo diễn biến toàn bộ vở kịch, sau khi nhận thức rõ điều đó, Hăm-lét không hoàn toàn buông xuôi mà đã chuyển sang hành động: chàng dàn dựng vở kịch để vạch trần tội ác của vua, đối đầu với Claudius và cuối cùng giết hắn để trả thù cho cha.

→ Điều này cho thấy Hăm-lét đã vượt qua phần nào sự do dự, nhưng hành động của chàng vẫn mang tính bi kịch vì phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

Câu 7 (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chỉ ra tính chất bi kịch của xung đột được thể hiện qua lời độc thoại của Hăm-lét. Theo bạn, trong xã hội hiện đại, xung đột đó có còn tồn tại hay không? Căn cứ để bạn nêu ý kiến về vấn đề này là gì?

Trả lời:

- Bi kịch trong lời độc thoại của Hăm-lét: Sự mâu thuẫn giữa việc đấu tranh để bảo vệ chính mình trước hiện thực xấu xa hay cứ sống chịu đựng, sống với lí tưởng nhân văn. 

+ Khi nghĩ về hiện thực xấu xa của xã hội, Hăm-lét muốn “cầm vũ khí vùng lên” bằng kế hoạch chàng đã tính toán sẵn. → Hăm-lét hiện lên thật đáng thương, tâm hồn của thái tử chỉ toàn những đớn đau, bi quan mà đầy trăn trở. Đồng thời tác giả cũng ngầm phản ánh hiện thực đương thời, tình trạng trì trệ tù túng của thời trung cổ với cái bể khổ của tội ác hoành hành khiến trí tuệ cũng phải “phát điên”.

+ Nhận thấy kẻ thù và tay sai của hắn là một thế lực lớn, Hăm-lét đã có những suy xét, vận dụng trí thông minh thay vì công khai trực chiến. Chàng quyết định giả điên để tay chân của kẻ địch giảm sự hoài nghi → kế hoạch mang tính chiến thuật cao → Thái tử là một người thông minh, có đầu óc suy đoán hơn người → Thể hiện vào niềm tin vào công lý của tác giả.

- Theo em, trong xã hội hiện đại, xung đột này vẫn còn tồn tại. Bởi vì ngày nay, những hiện thực xấu xa với lí tưởng nhân văn vẫn còn mâu thuẫn gay gắt, chưa có cách giải quyết triệt để. 

- Xung đột trung tâm trong đoạn độc thoại là xung đột nội tâm: Hăm-lét đứng giữa hai lựa chọn “sống” (tiếp tục chịu đựng mọi bất công, đau khổ) và “không sống” (chết để giải thoát). Đây không chỉ là lựa chọn sinh – tử mà là xung đột giữa hành động và do dự.

- Một mặt, Hăm-lét ý thức rất rõ cần phải hành động để chống lại cái ác, tiêu biểu qua hình ảnh “cầm vũ khí vùng lên chống lại biển khổ”. Điều đó thể hiện khát vọng đấu tranh mạnh mẽ của chàng.

- Nhưng mặt khác, chàng lại bị cản trở bởi chính suy nghĩ của mình. Những lập luận về “giấc ngủ của cái chết” và “những giấc mơ có thể đến” cho thấy nỗi sợ hãi trước cái chưa biết. Chính điều này khiến “ý chí bị làm cho bạc nhược”, con người rơi vào trạng thái do dự, không dám hành động dứt khoát.

- Bi kịch của Hăm-lét nằm ở chỗ: chàng càng tỉnh táo, càng nhận thức sâu sắc thì càng khó hành động. Nhận thức không dẫn đến hành động ngay mà lại trở thành lực cản. Đây là bi kịch của một con người có tư duy lớn nhưng bị hoàn cảnh và chính nội tâm trói buộc.

- Đồng thời, xung đột này còn phản ánh bi kịch của con người trong xã hội tha hóa: khi cái ác, bất công ngự trị, con người dù nhận ra sự thật vẫn khó có thể thay đổi thực tại.

- Trong xã hội hiện đại, xung đột ấy vẫn còn ý nghĩa: con người nhiều khi hiểu rõ điều đúng nhưng vẫn chần chừ vì sợ rủi ro, sợ thất bại hoặc áp lực dư luận.

* Kết nối đọc – viết

Bài tập (trang 131 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận của bạn về con người Hăm-lét được thể hiện qua lời độc thoại trong Sống, hay không sống – đó là vấn đề.

Đoạn văn tham khảo

Lời độc thoại của Hăm-lét trong Sống, hay không sống – đó là vấn đề đã thể hiện được nội tâm sâu sắc của chàng. Lời thoại này đã thể hiện trong tâm trí của Hăm-lét đang có những suy nghĩ, đấu tranh giữa việc sống và chết; phân vân bản thân nên “chịu đựng tất cả những viên đá, những mũi tên của số mệnh phũ phàng, hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại với sóng gió của biển khổ”. Từ đó có thể thấy Hăm-lét là một người mang nội tâm sâu sắc, không dễ dàng chịu khuất phục trước số phận, muốn đấu tranh để vượt ra khỏi chính mình, vượt ra khỏi mọi nỗi khổ nhục để giải phóng bản thân, tìm ra sự thật đằng sau cái chết của cha. Hăm-lét hiện lên thật đáng thương, tâm hồn của thái tử chỉ toàn những đớn đau, bi quan mà đầy trăn trở. Đồng thời tác giả cũng ngầm phản ánh hiện thực đương thời, tình trạng trì trệ tù túng của thời trung cổ với cái bể khổ của tội ác hoành hành khiến trí tuệ cũng phải “phát điên”. 

Đoạn độc thoại “Sống, hay không sống – đó là vấn đề” đã khắc họa sâu sắc chân dung nội tâm của Hamlet – một con người giàu suy tư nhưng đầy bi kịch. Trước hết, Hăm-lét hiện lên là người có ý thức sâu sắc về cuộc đời và con người. Chàng nhìn thấu những bất công của xã hội qua hàng loạt hình ảnh như “đòn roi của số mệnh”, “sự áp bức của kẻ quyền thế”, “công lí bị trì hoãn”… Từ đó, chàng đặt ra câu hỏi mang tính triết lí: nên sống để chịu đựng hay chết để giải thoát. Tuy nhiên, Hăm-lét không phải là kẻ bi quan đơn thuần. Chàng còn là người có khát vọng hành động, muốn “cầm vũ khí vùng lên chống lại biển khổ”. Nhưng bi kịch nằm ở chỗ, chính sự tỉnh táo và suy nghĩ quá sâu sắc lại khiến chàng rơi vào trạng thái do dự, giằng xé. Nỗi sợ về cái chết – “những giấc mơ có thể đến” – khiến chàng không thể lựa chọn dứt khoát. Vì vậy, Hăm-lét vừa mạnh mẽ trong nhận thức, vừa yếu đuối trong hành động. Qua đó, nhân vật hiện lên như một con người mang bi kịch của thời đại: cô độc giữa xã hội tha hóa và bị chính tư duy của mình kìm hãm. Đoạn độc thoại không chỉ thể hiện chiều sâu tâm lí nhân vật mà còn đặt ra vấn đề có ý nghĩa muôn đời về mối quan hệ giữa suy nghĩ và hành động của con người.