Soạn bài Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn - cải biến - sáng tạo trong một tác phẩm văn học - Kết nối tri thức
Soạn bài Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn - cải biến - sáng tạo trong một tác phẩm văn học - Kết nối tri thức
Với soạn bài Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn - cải biến - sáng tạo trong một tác phẩm văn học trang 115 → trang 122 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.
Soạn bài Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn - cải biến - sáng tạo trong một tác phẩm văn học - Kết nối tri thức
* Yêu cầu
- Giới thiệu chung về tác phẩm được lựa chọn; mối quan hệ giữa tác phẩm đó với tác phẩm mà nó đã chịu ảnh hưởng.
- Chỉ ra và phân tích được các phương diện, khía cạnh chủ yếu của sự tiếp nhận, chịu ảnh hưởng,… trong tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích được những điểm cách tân, sáng tạo của các tác giả khi tiếp nhận ảnh hưởng từ tác phẩm khác.
- Đánh giá giá trị của tác phẩm xét trên phương diện tiếp nhận và sáng tạo dựa vào các dẫn chứng cụ thể.
* Phân tích bài viết tham khảo:
Mẫu gốc Sơn Tinh, Thủy Tinh và sáng tạo của Hòa Vang trong truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời.
1. Giới thiệu tác phẩm, mối quan hệ giữa hai tác phẩm thuộc hai kiểu loại văn bản.
2. Chủ đề và cốt truyện của hai tác phẩm: sự biến đổi, tính hợp lí của sự biến đổi.
3. Nhân vật Thủy Tinh và những biến đổi so với mẫu gốc.
3. Sáng tạo mới về nhân vật của Hòa Vang so với truyền thuyết.
4. Dùng luận điểm bàn về ngôn ngữ nghệ thuật để kết luận.
Câu 1 (trang 120 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Theo tác giả bài viết, trong truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời, Hòa Vang đã kế thừa và làm biến đổi những phương diện cơ bản nào của “mẫu gốc”?
Trả lời:
- Theo tác giả bài viết, Hòa Vang đã kế thừa những phương diện sau: Cốt truyện, giữ nguyên các nhân vật chính, mô típ truyện.
- Những biến đổi so với “mẫu gốc”: Nhân vật được miêu tả chi tiết hơn, sinh động hơn, chuyển hoàn toàn sang lối viết tình cảm, cảm xúc hơn; Mị Nương hàn gắn mối quan hệ giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh (điều mà bản gốc không có).
=> Sự kế thừa và biến đổi của Hòa Vang trong "Sự tích những ngày đẹp trời" đã tạo ra một tác phẩm mới lạ và độc đáo, mang trong đó dấu ấn riêng biệt của tác giả. Truyện ngắn không chỉ giữ lại những giá trị truyền thống mà còn thể hiện những quan niệm hiện đại về tình yêu, cuộc sống và con người.
Theo tác giả bài viết, trong truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời, Hoà Vang đã kế thừa và biến đổi các phương diện cơ bản của “mẫu gốc” Sơn Tinh, Thủy Tinh như: chủ đề, cốt truyện, hệ thống xung đột, nhân vật và các yếu tố kì ảo, giọng kể.
Câu 2 (trang 120 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Khi bàn về sự “biến đổi” của nhân vật ở truyện ngắn so với nhân vật ở “mẫu gốc”, theo bạn, tác giả bài viết đã có những phát hiện mới mẻ nào?
Trả lời:
- Những phát hiện mới mẻ về nhân vật: Điển hình là Thủy Tinh, từ một vị thần hung bạo trở thành một người si tình nhờ được tập trung khai thác nội tâm. Ngoài ra, Sơn Tinh và Mỵ Nương cũng có những thay đổi nhất định.
- Những thay đổi về chủ đề của tác phẩm: từ câu chuyện chủ yếu là đề cao sức mạnh đoàn kết mà con đề cao tình yêu thương, thấu hiểu và hòa hợp.
- Tác giả bài viết có những phát hiện mới mẻ như:
+ Thuỷ Tinh không còn là biểu tượng của thiên tai hung dữ mà trở thành hình tượng người tình lí tưởng, giàu cảm xúc và hi sinh.
+ Mị Nương được khắc hoạ có đời sống nội tâm phong phú, khát vọng tình yêu và hạnh phúc cá nhân.
+ Các nhân vật trở nên gần gũi, “con người” hơn, mang tâm lí hiện đại và đa chiều.
Câu 3 (trang 120 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Nêu nhận xét ngắn gọn về cách đánh giá của tác giả bài viết đối với những điểm sáng tạo của Hòa Vang trong việc biến đổi các yếu tố kì ảo.
Trả lời
Nhận xét: Tác giả của bài viết đánh giá cao sự sáng tạo của Hòa Vang trong việc thay đổi các yếu tố kì ảo. Những thay đổi này đã đóng góp vào việc tạo ra một tác phẩm mới lạ, độc đáo, và đặc trưng của tác giả. Cách đánh giá của tác giả bài viết về những sáng tạo của Hòa Vang trong việc biến đổi các yếu tố kì ảo là khách quan, thuyết phục, và mở ra nhiều cơ hội cho người đọc để suy ngẫm.
Tác giả đánh giá cao sự sáng tạo của Hoà Vang trong việc biến đổi yếu tố kì ảo. Những yếu tố ấy không chỉ giữ màu sắc cổ tích mà còn giúp khám phá chiều sâu tâm hồn con người, làm cho câu chuyện vừa lãng mạn, thơ mộng vừa hiện đại và giàu tính nhân văn.
Câu 4 (trang 120 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Qua việc tìm hiểu bài viết tham khảo, hãy chia sẻ thu hoạch của bạn trong việc rèn kĩ năng viết bài nghị luận về vấn đề tiếp thu, cải biến, sáng tạo trong một tác phẩm văn học.
Trả lời
Học được cách so sánh hai tác phẩm, sử dụng triệt để kĩ năng phân tích và lập luận kết hợp với lối diễn đạt rành mạch, rõ ràng.
Qua bài viết, em hiểu rằng khi viết bài nghị luận về vay mượn – cải biến – sáng tạo trong văn học cần:
+ Chỉ ra yếu tố được kế thừa từ “mẫu gốc”.
+ Phân tích những điểm đổi mới, sáng tạo của tác giả.
+ So sánh để thấy ý nghĩa của sự cải biến.
+ Đánh giá giá trị tư tưởng và nghệ thuật mà sự sáng tạo mang lại cho tác phẩm.
* Thực hành viết theo các bước
1. Chuẩn bị viết
- Chọn một tác phẩm (thơ, truyện ngắn, truyện thơ, tiểu thuyết,…) có biểu hiện tương đối rõ sự vay mượn - biến đổi (hay tiếp nhận - sáng tạo),… so với tác phẩm có trước.
- Chú ý chỉ ra được những phương diện vay mượn - biến đổi trong tác phẩm. Sắp xếp các dẫn chứng thông qua lập biểu khảo sát.
- Xác định phạm vi nội dung và trọng tâm bài viết (vấn đề nghị luận); đặt nhan đề cho bài viết của mình.
Một số gợi ý:
+ Trong số các tác phẩm văn học viết mà bạn đã biết, có thể có những tác phẩm vay mượn cốt truyện, nhân vật, sự kiện, hình tượng,… từ một tác phẩm văn học dân gian. Hãy nêu một vài ví dụ tiêu biểu.
+ Nhiều tác phẩm văn học Việt nam đã vay mượn cốt truyện, chịu ảnh hưởng ở các mức độ và phương diện khác nhau của tác phẩm văn học nước ngoài. Lựa chọn để trình bày về một số trường hợp như vậy.
+ Sử dụng điển cố là một trong những biểu hiện của hiện tượng vay mượn và cải biến trong tác phẩm văn học. Hãy trình bày về một trường hợp sử dụng điển cố mà bạn cho là độc đáo.
2. Tìm ý, lập dàn ý
a. Tìm ý
Có thể tự đặt ra các câu hỏi xếp theo nhóm như sau để tìm ý:
- Có những thông tin nổi bật gì cần giới thiệu liên quan đến nhan đề, thể loại, tác giả, ý nghĩa của tác phẩm “nguồn” và tác phẩm chịu ảnh hưởng?
- Sự tiếp nhận có ý thức được thể hiện rõ trên những phương diện nào (thể loại, cốt truyện, điển cố,… hay cảm hứng, quan điểm, phong cách,…)? Trong đó, phương diện nào cần được đặc biệt nhấn mạnh?
- Bạn nhận diện sự tiếp nhận (chịu ảnh hưởng, vay mượn) dựa trên những yếu tố hoặc cơ sở nào?
- Tác dụng, ý nghĩa của sự cải biến, cách tân là gì?
- Nên đánh giá về mức độ, phạm vi, tính chất,… của sự vay mượn và biến đổi như thế nào cho thỏa đáng?
b. Lập dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn các thông tin về tác giả, tác phẩm, trọng tâm vấn đề (khía cạnh nào của sự vay mượn - biến đổi) mà bài viết bàn luận.
- Thân bài: Cần triển khai các ý chính sau đây:
+ Nhận diện về phạm vi, tính chất của việc tiếp nhận, chịu ảnh hưởng.
+ Phân tích, đánh giá sự vay mượn, tiếp nhận, chịu ảnh hưởng trên các phương diện cụ thể.
+ Phân tích, đánh giá những điểm biến đổi, sáng tạo của tác giả trong quá trình vay mượn.
Lưu ý: Việc sắp xếp hệ thống ý chính cần linh hoạt, phụ thuộc vào ý tưởng triển khai mạch nghị luận. Ví dụ, có thể sắp xếp theo cấu trúc: các phương diện chỉ vay mượn mà không biến đổi, vay mượn nhưng biến đổi một phần, vay mượn về mặt hình thức nhưng biến đổi hoàn toàn về nội dung,...
- Kết bài: Ý nghĩa của việc tìm hiểu về sự vay mượn và biến đổi trong tác phẩm. Nêu đánh giá chung và hướng khám phá, tìm tòi tiếp theo.
c. Viết
- Triển khai các ý thành một hoặc một vài đoạn văn. Chú ý sự phù hợp về dung lượng (độ dài) của ý chính (vay mượn – biến đổi) và các ý phụ.
- Hệ thống các dẫn chứng (trích dẫn, số liệu thống kệ,...) gắn với từng luận điểm cần rõ ràng, xác đáng. Biết trích dẫn ý kiến từ các tài liệu tham khảo một cách hợp lí, trình bày theo đúng quy định.
- Tổ chức liên kết hệ thống ý một cách chặt chẽ.
- Lựa chọn từ ngữ thích hợp, nhất là hệ thống các từ ngữ thể hiện sự so sánh, đánh giá.
Bài viết tham khảo:
Văn học tồn tại như một dòng chảy vô tận, luôn liên tục chuyển động và phát triển. Trong dòng chảy đó, việc các tác giả sử dụng, biến đổi và sáng tạo từ những nguồn tài liệu có sẵn là không thể tránh khỏi. Điều này đóng góp vào sự phong phú và đa dạng của kho tàng văn học. Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam, là một ví dụ tiêu biểu cho quá trình sáng tạo, biến đổi và sử dụng các nguồn tài liệu có sẵn trong văn học.
Tác phẩm được lấy cảm hứng từ Truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Tuy nhiên, Nguyễn Du đã không sao chép một cách đơn thuần mà vay mượn một cách có chọn lọc những chất liệu như: cốt truyện, nhân vật, mô típ,... để tạo nên một tác phẩm mới mẻ, mang đậm dấu ấn cá nhân.
Nguyễn Du đã không ngừng tiến xa hơn khỏi khung cảnh cơ bản của Truyện Kim Vân Kiều, mà đã táo bạo tạo ra những biến đổi sáng tạo và phong phú. Việc bổ sung nhân vật Thúy Kiều, một nhân vật mới với đời sống tâm lý sâu sắc và đầy đau thương, không chỉ làm phong phú thêm câu chuyện mà còn tạo ra sự đồng cảm và sự chú ý đặc biệt từ độc giả. Sự thay đổi về kết thúc, từ một kết cục truyền thống sang một kết thúc mới, mang lại một thông điệp sâu sắc hơn về cuộc sống và con người. Đặc biệt, trong việc phát triển nhân vật, Nguyễn Du đã làm cho những nhân vật đã có trong Truyện Kim Vân Kiều trở nên sống động hơn bằng cách tạo ra những đặc điểm tâm lý phức tạp và mang tính nhân văn sâu sắc. Thúy Kiều, một biểu tượng của sự đẹp đẽ và tài năng, đồng thời cũng là biểu tượng của sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm trong cuộc đời, đã trở thành một biểu tượng về sự kiên định và sức mạnh trong cuộc sống, đồng thời là sự lên án sâu sắc đối với sự bất công của xã hội phong kiến. Nguyễn Du đã tận dụng những mô típ quen thuộc trong văn học dân gian, nhưng thay đổi chúng để phản ánh ý tưởng và phong cách sáng tạo của mình. Ví dụ, mô típ "hòn đá thử vàng" không chỉ đơn thuần là một thử thách vật chất, mà còn là một thử thách về lòng kiên nhẫn và sự chống chọi với số phận của Thúy Kiều, từ đó khẳng định giá trị nhân văn của tác phẩm. Sự sáng tạo là yếu tố quan trọng nhất, giúp Truyện Kiều trở thành một tác phẩm vĩ đại, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Nguyễn Du đã sáng tạo nên một bức tranh xã hội phong phú và đa chiều, thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc và khẳng định tài năng vĩ đại của mình trong lịch sử văn học.
Truyện Kiều là một kiệt tác của văn học Việt Nam, là bông hoa rực rỡ trong vườn hoa văn học thế giới. Sự vay mượn, cải biến và sáng tạo của Nguyễn Du đã góp phần tạo nên giá trị trường tồn của tác phẩm.
Văn học dân gian là kho tàng tinh thần quý giá của dân tộc, lưu giữ những ước mơ, khát vọng, kinh nghiệm sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân qua nhiều thế hệ. Chính vì giá trị bền vững ấy mà nhiều tác phẩm văn học viết đã tiếp thu, vay mượn cốt truyện, nhân vật, hình tượng hay cảm hứng từ văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm mới mang dấu ấn riêng. Điều đó không chỉ cho thấy sức sống lâu bền của văn học dân gian mà còn thể hiện sự kế thừa và phát triển liên tục của nền văn học dân tộc.
Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho sự tiếp thu văn học dân gian là Truyện Kiều. Nguyễn Du đã dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc Kim Vân Kiều truyện để sáng tạo nên kiệt tác thơ Nôm của dân tộc. Tuy vay mượn cốt truyện, nhưng Nguyễn Du đã có sự sáng tạo lớn lao về ngôn ngữ, nghệ thuật và tư tưởng. Nếu nguyên tác chủ yếu kể chuyện thì Truyện Kiều lại đi sâu khám phá số phận, tâm trạng và phẩm giá con người, đặc biệt là vẻ đẹp tài sắc, nhân cách của Thúy Kiều. Đồng thời, tác phẩm còn thấm đẫm chất liệu văn học dân gian qua cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao và ngôn ngữ gần gũi với đời sống nhân dân. Nhờ đó, Truyện Kiều vừa mang hơi thở của văn học bác học vừa đậm đà bản sắc dân tộc.
Bên cạnh đó, nhiều truyện truyền kì trung đại cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyện dân gian. Truyền kì mạn lục là một ví dụ tiêu biểu. Trong tác phẩm này, Nguyễn Dữ đã tiếp thu nhiều yếu tố dân gian như chuyện ma quái, thần linh, người hóa thân hay những chi tiết kì ảo vốn quen thuộc trong truyện kể dân gian. Chẳng hạn, Chuyện người con gái Nam Xương có sự xuất hiện của Linh Phi, động Rùa và yếu tố oan hồn hiện về – những chi tiết mang màu sắc huyền ảo quen thuộc của văn học dân gian. Tuy nhiên, Nguyễn Dữ không chỉ kể chuyện li kì để hấp dẫn người đọc mà còn gửi gắm nỗi thương cảm sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nhờ kết hợp yếu tố dân gian với cảm hứng nhân đạo, tác phẩm trở nên giàu giá trị hiện thực và nhân văn.
Trong văn học hiện đại, sự kế thừa văn học dân gian vẫn tiếp tục được phát huy. Đất rừng phương Nam hay Muối của rừng đều có những yếu tố gợi nhớ đến truyện dân gian, truyền thuyết hoặc tín ngưỡng dân gian. Ở Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng những chi tiết kì ảo như Hõm Chết, hoa tử huyền hay tiếng hú bí hiểm trong rừng sâu. Những yếu tố ấy khiến câu chuyện vừa chân thực vừa huyền bí, gợi liên tưởng đến thế giới truyền thuyết và truyện cổ dân gian. Qua đó, nhà văn gửi gắm thông điệp về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên: con người chỉ thực sự bình yên khi biết sống hài hòa với tự nhiên.
Không chỉ vay mượn cốt truyện hay chi tiết, nhiều tác phẩm văn học viết còn tiếp thu hình tượng nhân vật từ văn học dân gian. Hình tượng người phụ nữ hiền hậu, thủy chung trong ca dao, truyện cổ tích đã trở thành nguồn cảm hứng để các nhà văn, nhà thơ xây dựng những nhân vật như Vũ Nương, Thúy Kiều hay Mị. Hình tượng người anh hùng dân gian cũng được phát triển thành các nhân vật mang vẻ đẹp lí tưởng trong văn học viết. Điều này cho thấy văn học dân gian chính là mạch nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ.
Việc vay mượn chất liệu dân gian trong văn học viết có ý nghĩa rất lớn. Trước hết, nó giúp các tác phẩm trở nên gần gũi, quen thuộc với người đọc bởi những câu chuyện, hình tượng đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng. Đồng thời, văn học dân gian cung cấp cho nhà văn nguồn chất liệu phong phú về ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng và cách xây dựng cốt truyện. Quan trọng hơn, thông qua sự kế thừa ấy, các giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ và tiếp tục phát triển trong đời sống hiện đại.
Tuy nhiên, vay mượn không có nghĩa là sao chép nguyên xi. Giá trị của văn học viết nằm ở sự sáng tạo mới mẻ trên nền chất liệu cũ. Nguyễn Du thành công không phải vì kể lại Kim Vân Kiều truyện mà vì ông đã “thổi hồn” dân tộc và cảm hứng nhân đạo vào câu chuyện ấy. Nguyễn Dữ cũng không chỉ kể chuyện ma quái mà còn phản ánh hiện thực xã hội và số phận con người. Vì vậy, sự kế thừa chỉ thực sự có ý nghĩa khi người nghệ sĩ biết sáng tạo, làm mới và gửi gắm tư tưởng riêng của mình.
Có thể nói, mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là mối quan hệ kế thừa và phát triển. Văn học dân gian giống như dòng sông nguồn nuôi dưỡng văn học dân tộc, còn văn học viết là sự tiếp nối, mở rộng và làm phong phú thêm những giá trị ấy. Nhờ sự tiếp thu và sáng tạo không ngừng, nhiều tác phẩm văn học viết đã vượt qua giới hạn của thời đại để trở thành những giá trị bền vững trong đời sống tinh thần của con người.
Trong lịch sử văn học, vay mượn và sáng tạo là quy luật phổ biến của nghệ thuật. Một tác phẩm lớn không chỉ tiếp nhận tinh hoa có trước mà còn phải tạo nên giá trị mới mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ. Truyện Kiều là minh chứng tiêu biểu cho điều đó. Dựa trên cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã cải biến sâu sắc để tạo nên kiệt tác mang linh hồn dân tộc và giá trị nhân đạo lớn lao.
Trước hết, Nguyễn Du vay mượn cốt truyện và hệ thống nhân vật từ tác phẩm gốc. Những sự kiện chính như cuộc đời lưu lạc của Thuý Kiều, mối tình Kim – Kiều, việc bán mình chuộc cha, quãng đời ở lầu xanh hay cuộc đoàn tụ cuối cùng đều được giữ lại. Các nhân vật quen thuộc như Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn Thư, Mã Giám Sinh,… cũng xuất hiện gần như nguyên vẹn. Điều đó cho thấy Nguyễn Du tiếp nhận khá rõ phần “khung” của tác phẩm nguồn.
Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của Truyện Kiều nằm ở sự cải biến và sáng tạo tài tình của Nguyễn Du. Trước hết là sự thay đổi về thể loại. Nếu Kim Vân Kiều truyện là tiểu thuyết chương hồi viết bằng văn xuôi chữ Hán thì Truyện Kiều lại được sáng tác bằng thể thơ lục bát dân tộc giàu nhạc điệu và cảm xúc. Chính sự chuyển đổi này đã giúp câu chuyện trở nên mềm mại, sâu lắng và gần gũi với tâm hồn người Việt.
Không chỉ thay đổi hình thức nghệ thuật, Nguyễn Du còn sáng tạo ở chiều sâu tư tưởng. Trong tác phẩm gốc, Thuý Kiều chủ yếu hiện lên như một nhân vật tài sắc bạc mệnh. Đến Truyện Kiều, nàng trở thành biểu tượng cho số phận đau khổ của con người trong xã hội phong kiến bất công. Nguyễn Du không chỉ kể chuyện mà còn gửi gắm tiếng khóc thương cảm cho những con người bị chà đạp. Tinh thần nhân đạo ấy thể hiện qua sự trân trọng tài năng, vẻ đẹp và khát vọng hạnh phúc của con người.
Bên cạnh đó, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du cũng là một sáng tạo vượt bậc. Nếu nhân vật trong Kim Vân Kiều truyện thiên về hành động thì trong Truyện Kiều, đời sống nội tâm được khắc hoạ tinh tế, sâu sắc. Những đoạn thơ như “Trao duyên”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Nỗi thương mình”… đã diễn tả đầy ám ảnh tâm trạng đau đớn, cô đơn và bi kịch của Thuý Kiều. Nhờ đó, nhân vật trở nên sống động và giàu tính nhân văn hơn.
Ngôn ngữ nghệ thuật cũng là điểm sáng tạo nổi bật. Nguyễn Du đã vận dụng tài tình tiếng Việt dân tộc, kết hợp ngôn ngữ bác học với lời ăn tiếng nói dân gian, sử dụng nhiều điển cố, thành ngữ, hình ảnh giàu sức gợi. Những câu thơ của ông vừa sang trọng vừa gần gũi, có sức lay động mạnh mẽ đối với nhiều thế hệ độc giả.
Có thể thấy, Nguyễn Du không sao chép đơn thuần mà đã “Việt hoá” câu chuyện cũ bằng tâm hồn, tư tưởng và tài năng nghệ thuật của mình. Từ một cốt truyện vay mượn của văn học Trung Quốc, ông đã sáng tạo nên một kiệt tác bất hủ của văn học dân tộc.
Việc tìm hiểu sự vay mượn và cải biến trong Truyện Kiều giúp người đọc hiểu rõ hơn quy luật kế thừa và sáng tạo của văn học. Đồng thời, điều đó càng khẳng định tài năng lớn lao của Nguyễn Du – người đã biến chất liệu cũ thành một tác phẩm có giá trị nhân văn và nghệ thuật vượt thời gian.
4. Chỉnh sửa, hoàn thiện
- Đọc lại và kiểm tra bài viết cẩn thận, từ chỉnh thể văn bản đến chi tiết là câu văn; chú ý các yêu cầu cụ thể của kiểu bài.
- Kiểm tra tính logic của mạch ý đã triển khai; tính hợp lí của dẫn chứng; sự khách quan trong bàn luận, so sánh, đánh giá,... về mức độ vay mượn, tiếp thu, sáng tạo của tác giả.
- Rà soát, chỉnh sửa các lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp; kiểm tra sự liên kết giữa các câu trong đoạn và giữa các đoạn trong bài viết.