Soạn bài (Nói và nghe trang 67) Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ - Kết nối tri thức
Soạn bài (Nói và nghe trang 67) Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ - Kết nối tri thức
Với soạn bài Nói và nghe: Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ trang 67, 68, 69, 70 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.
Soạn bài (Nói và nghe trang 67) Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ - Kết nối tri thức
Yêu cầu
- Cung cấp được các thông tin chung về bài thơ một cách ngắn gọn: tên bài thơ, tác giả, đề tài, thể thơ,...
- Làm rõ được niềm hứng thú của bản thân đối với những nét đặc sắc về nội dung và hình thức của một tác phẩm thơ.
- Nêu lên quan điểm cá nhân về vấn đề thuyết trình, thuyết phục được người nghe và đặt câu hỏi để mời gọi những thảo luận xa hơn.
- Thể hiện được sự tôn trọng những cách cảm nhận, đánh giá đa dạng đối với một tác phẩm thơ.
1. Chuẩn bị nói và nghe
a. Chuẩn bị nói
* Lựa chọn đề tài: Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Mùa xuân chín” (Hàn Mặc Tử)
* Tìm ý và sắp xếp ý
- Nội dung:
+ Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống
+ Cảm xúc trong lòng người: rạo rực trong tình yêu, nuối tiếc trước cái đẹp, nỗi nhớ làng quê
- Nghệ thuật
+ Cổ điển: những điểm tương đồng với thể thơ Đường luật (thể thơ, nhịp điệu, gieo vần)
+ Hiện đại: ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực
- Đánh giá về thành công, giá trị, tầm ảnh hưởng của tác phẩm đối với bản thân
*Xác định từ ngữ then chốt
Có thể sử dụng các cụm từ phù hợp với kiểu bài nói này như: Về tác phẩm này, tôi xin tập trung nói về vấn đề, … Ấn tượng nổi bật nhất của tôi về tác phẩm là... Đó là lí do không thể không nói đến khi lí giải sức hấp dẫn của tác phẩm này...
*Phương tiện hỗ trợ
- Chuẩn bị bài trình chiếu Powerpoint với các thông tin chắt lọc (có thể triển khai các luận điểm thành gạch đầu dòng, dùng các kí hiệu để nhấn mạnh những chủ ngữ trọng tâm đã được xác định ở trên), cần cân nhắc về số lượng slide sử dụng. Có thể sử dụng các kênh âm thanh, kênh hình ảnh (lưu ý: hình ảnh phải tương thích với bài thơ đã chọn. Chẳng hạn với bài Mùa xuân xanh, nên chọn minh họa bằng những hình ảnh mùa xuân gắn liền với nông thôn, đồng quê).
- Người nói cũng có thể chuẩn bị văn bản tác phẩm thơ sẽ thuyết trình để cung cấp cho người nghe trước khi trình bày bài nói.
b. Chuẩn bị nghe
- Tìm hiểu trước về vấn đề thảo luận cách sử dụng, xem xét các tri thức ngữ văn, đọc các tài liệu mà người nói có thể đã chuẩn bị và cung cấp
- Chuẩn bị tâm thế là nghe và đối thoại với người thuyết trình, chú ý theo dõi các người thuyết trình phân tích từ ngữ, hình ảnh, cách sử dụng thao tác phân tích.
2. Thực hành nói và nghe
|
Người nói |
Người nghe |
|
-Mở đầu: giới thiệu ngắn gọn về bài thơ, có thể sử dụng nhiều cách dẫn khác nhau để tạo không khí cho giờ học. (Ví dụ với bài thơ Mùa xuân xanh, có thể đặt câu hỏi cho người nghe như: mùa xuân là nguồn cảm hứng muôn thuở của thi ca. Có lẽ nhà thơ nào cũng ít nhất một lần từng viết về mùa xuân. Trong thơ ca Việt Nam, các bạn có biết nhà thơ nào viết nhiều nhất về mùa xuân không?) Đây không phải là yêu cầu bắt buộc nhưng để tránh nói mà như đọc, người nói cần khơi gợi được sự tương tác từ người nghe. Lưu ý: có thể chỉ cần chọn một phương diện nào đó về tư tưởng, tình cảm hoặc hình thức nghệ thuật của bài thơ mà mình thấy tâm đắc để thuyết trình. -Triển khai: trình bày lần lượt các thông tin có trong bài viết theo hình thức tóm lược, kết hợp nhịp nhàng với việc trình chiếu PowerPoint (nếu có). Dành nhiều thời gian hơn để nói về những giá trị nổi bật của bài thơ mà mình cảm nhận được. Nên nhấn mạnh các thao tác mình đã sử dụng để phát hiện giá trị thẩm mỹ hay tư tưởng trong bài thơ liên tưởng, đối lập. Với bài thuyết trình về bài thơ Mùa xuân xanh, cần nhấn mạnh các phương diện: (1) nhan đề, (2) mạch thơ, (3) nhịp điệu, (4) “mùa xuân xanh”: truyền thống và hiện đại. Có thể coi đây là các mục lớn để thiết kế slide trong trường hợp người thuyết trình sử dụng phương tiện trình chiếu. -Kết luận: khái quát lại những điều mình cảm nhận cũng như đánh giá về giá trị của bài thơ trên các phương diện hình thức và nội dung. Có thể kết bài bằng những câu khuyến khích người nghe chia sẻ những góc nhìn khác, phát hiện khác với bài thơ. |
Trong khi nghe bản thuyết trình, cần: - Có thái độ tôn trọng, đặc biệt quan tâm đến cảm xúc của người thuyết trình. - Ghi chép những ý tưởng trong bài thuyết trình đã khiến mình thực sự thấy hứng thú, những điểm bạn còn băn khoăn, muốn trao đổi. - Chú ý đến phong thái của người thuyết trình (ví dụ: sự tự tin, khả năng điều tiết giọng nói, ngôn ngữ, cử chỉ,...) |
*Bài nói mẫu tham khảo
Chào mọi người, mình là ............... Hôm nay, mình trong vai trò là một nhà báo, mình đến từ toà soạn báo Phong Hoá. Chắc mọi người đều biết đây là tờ báo vô cùng nổi tiếng trong phong trào Thơ mới ở Việt Nam thời bấy giờ. Hôm nay, mình sẽ giới thiệu với các bạn một nhà thơ với phong cách vô cùng kì bí, độc và lạ, các bạn hãy cùng mình khám phá nhé.
Không biết trong bốn mùa, các bạn thích mùa nào nhất? Mỗi khi vào mùa đó, bạn thường cảm thấy như thế nào? Với tôi, mùa xuân có lẽ là khoảng thời gian đẹp đẽ nhất trong năm. Chúng ta đã từng nghe “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, “Mùa xuân xanh” của Nguyễn Bính, nhưng không biết các bạn đã ai từng nghe đến “Mùa xuân chín”? Đó là tên một thi phẩm của người với phong cách vô cùng kì bí, độc đáo và mới lạ mà mình muốn giới thiệu với các bạn. Hàn Mặc Tử.
“Mùa xuân chín” gây ấn tượng với tôi bởi chính nhan đề của nó. Bởi lẽ, đọc thơ của Hàn Mặc Tử, ta luôn thấy một sự u huyền, mơ mộng, kì bí, đượm buồn và đau thương với những hình ảnh đặc trưng là “máu”, “trăng” và “rượu”. Thế nhưng, “mùa xuân chín” lại mang đến một cảm giác hoàn toàn mới lạ, một không gian tràn đầy sức sống của cảnh xuân và tình xuân. “Chín” vốn là tính từ để chỉ trạng thái của quả cây khi đã đến giai đoạn thu hoạch, ngọt ngào, căng mọng và thơm mát. Với ý nghĩa đó, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một “mùa xuân chín” – một mùa xuân tràn đầy sức sống, viên mãn và tròn đầy. Mùa xuân đang ở độ tươi đẹp nhất, rạng rỡ nhất, căng tràn nhựa sống nhất.
Mạch thơ là dòng tâm tư bất định với những chuyển kênh bất chợt: từ ngoại cảnh đến tâm cảnh, từ sắc thu đến tình thu, từ niềm say mê rạo rực đến nỗi bâng khuâng, xao xuyến, từ hiện tại về quá khứ.
Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên tươi mới, ngập tràn ánh sáng, ngập tràn sắc xuân:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”.
Thiên nhiên mùa xuân hiện ra ngập tràn sắc vàng của nắng hoà trong làn sương khói mờ ảo, huyền bí. Cách kết hợp từ “khói mơ tan” khiến ta hình dung những làn khói sương như đang hoà tan trong nắng tạo nên một khung cảnh đẹp như mơ. Sắc vàng của nắng càng trở nên rực rỡ với hình ảnh “đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Trong khung cảnh thanh bình, yên ả ấy bỗng nhà thơ bắt gặp tiếng “sột soạt” của “gió trêu tà áo biếc”. “Sột soạt” được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh của động của cảnh vật. Gió như đang trêu đùa cùng tà áo biếc đón xuân sang, khiến không khí mùa xuân trở nên sôi động, vui tươi, đầy hứng khởi. Từ mái nhà tranh, nhà thơ di chuyển điểm nhìn đến “giàn thiên lí”. Dấu chấm đặt giữa câu thơ như một sự ngập ngừng, ngắt quãng. Bởi đó là khoảnh khắc thi nhân giật mình nhận ra “bóng xuân sang”. Mùa xuân được hữu hình hoá, có thể quan sát bằng thị giác. Bóng của mùa xuân nhẹ nhàng bước tới như thể đang đứng trước mặt nhà thơ, khiến con người ngỡ ngàng mà chiêm ngưỡng cái sắc xuân tươi đẹp ấy.
Từ điểm nhìn cận cảnh, Hàn Mạc Tử đưa tầm mắt ra xa với cái nhìn viễn cảnh. Không gian mùa xuân được rộng mở với “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. “Sóng” được kết hợp với thảm cỏ xanh mướt khiến bạn đọc hình dung từng lớp cỏ như nối tiếp nhau, trải dài bất tận, sức sống dường như đang căng tràn một cách mãnh liệt. Ý thơ làm ta nhớ đến một câu thơ trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” của Nguyễn Du: “Cỏ non xanh tận chân trời”. Cùng diễn tả một không gian mùa xuân với thảm cỏ xanh mướt trải dài bất tận nhưng cái độc đáo của Hàn Mặc Tử là cách nói “sóng cỏ” gợi ra một sự uyển chuyển, nhẹ nhàng mà mượt mà của những lớp cỏ xuân. Phải chăng sức sống cuộn trào từ bên trong, tạo thành những đợt sóng và kết lại tạo nên một “mùa xuân chín”!
Từ cảnh thu, Hàn Mạc Tử bỗng chuyển sang tình thu, bức tranh ngoại cảnh trở về với bức tranh tâm cảnh. Phải chăng, nhà thơ dùng cảnh mở đầu là để nói tình, tả tình? Một cái tình nồng hậu, thiết tha với con người và cuộc đời. Hoà cùng với không khí tươi vui của mùa xuân, ta thấy được cái náo nức trong lòng người:
“Bao cô thôn nữ hát trên đồi
-Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
“Xuân xanh” là một ẩn dụ để chỉ những cô gái trẻ trung, xinh đẹp. Tuổi xuân của họ tươi đẹp, rực rỡ như mùa xuân của đất trời. Chính vì vậy, niềm vui của những cô thôn nữ hoà trong không khí mùa xuân chính là tình xuân. Cái ửng của nắng phải chăng chính là đôi má ửng hồng của các cô gái khi “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Niềm vui của họ là tình yêu đôi lứa, là sự gắn kết trong hôn nhân đến bạc đầu. “Mùa xuân chín” không chỉ là tiết trời xuân mà còn là tình xuân. Cái “chín” trong tình yêu chính là kết quả nên vợ nên chồng. Niềm hạnh phúc của những cô gái được thể hiện trong “tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi”. Hàn Mặc Tử đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác thật tài tình. “Tiếng ca” vốn được cảm nhận bằng thính giác, nay được hữu hình hoà trong trạng thái “vắt vẻo”, cảm nhận bằng thị giác. Tiếng hát ca say sưa của con người như có sức hút, cao vút đến lưng chừng núi thể hiện niềm thiết tha yêu đời mãnh liệt. Dư âm của tiếng hát dường như còn ngập ngừng mà “vắt vẻo lưng chừng núi” tạo nên một âm thanh vang vọng khắp không gian
Từ âm thanh cao vút, hổn hển như lời của nước mây bỗng trở thành những lời thầm thì nhỏ bé:
“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây”
Câu thơ phảng phất tính tượng trưng, siêu thực trong thơ Hàn Mạc Tử. Đại từ “ai” xuất hiện như “bóng ai đậu bến sông trăng đó” (Đây thôn Vĩ Dạ) đầy bí ẩn. “Tiếng ca” vốn vang xa khắp núi rừng nay thu lại chỉ dành cho “ai”. Đó có thể là người thương, cũng có thể là với chính bản thân mình. Để rồi, khi tâm tình, sẻ chia, con người có thể lắng nghe được những “ý vị và thơ ngây” trong lòng mình. Tuy nhiên, câu thơ cũng mang theo nỗi buồn, niềm nuối tiếc của người thi sĩ trước “mùa xuân chín”. Bởi “xuân chín” rồi cũng là lúc “xuân tàn”, cái đẹp rồi cũng sẽ tàn phai. “Đám xuân xanh ấy” rồi cũng “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Tuổi xuân tươi đẹp của người thiếu nữ rồi cũng có điểm kết. Ta thấy dâng lên trong lòng nhà thơ một nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến, muốn níu giữ cái hương sắc tươi đẹp của cuộc đời. Để rồi, kết thúc bài thơ, Hàn Mặc Tử hoá thân trong một người “khách xa”, bày tỏ nỗi nhớ nhung của mình:
“Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
-Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”.
Trước “mùa xuân chín”, lòng “khách xa” bỗng trào dâng nỗi nhớ làng quê thân thương. Nhớ làn nắng ửng, nhớ đôi mái nhà tranh, nhớ tà áo biếc và nhớ cả giàn thiên lý. Đó là một không gian làng quê mộc mạc, giản dị, gần gũi mà chan chứa nghĩa tình. Và trong không gian ấy, hình ảnh người chị gánh thóc trở thành trung tâm của nỗi nhớ. “Chị ấy” là một cách nói phiếm chỉ. Đó có thể là một người dân lao động bình thường nơi thôn quê của tác giả, cũng có thể là một người thân quen gần gũi, hoặc cũng có thể là cô người yêu của thi nhân. Người con gái xuất hiện trong nét đẹp lao động với tư thế gánh thóc, hoà cùng ánh nắng vàng bên bờ sông trắng. Một khung cảnh hiện lên thật thơ mộng, lãng mạn biết bao!
Như vậy, bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử có sự hài hoà của sắc xuân, tình xuân. Một nét đặc trưng tiêu biểu làm nên sự độc đáo của “Mùa xuân chín” cũng như ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử chính là sự kết hợp tài tình giữa cái cổ điển và cái hiện đại. Trước hết, ta bắt gặp thơ Hàn Mặc Tử có những điểm giao thoa với thể thơ Đường luật, tạo nên một nét thơ phảng phất phong vị cổ điển, trang trọng. “Mùa xuân chín” được sáng tác theo thể thơ bảy chữ, ngắt nhịp 4/3. Thất ngôn và ngắt nhịp 4/3 là đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường luật. Ngoài ra, cách gieo vần cuối những câu thơ 1, 2, 4 cũng là một điểm giao thoa với thể thơ Đường luật. Đó là những yếu tố làm nên phong vị cổ điển trong thơ Hàn Mặc Tử. Về tính hiện đại, thi sĩ họ Hàn là người chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực. Một trong những đặc điểm tiêu biểu của thơ tượng trưng siêu thực đó là tạo nên những hình ảnh huyền ảo, kì bí, thậm chí là ma mị bằng những kết hợp từ mới mẻ, độc đáo thông qua nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Có thể thấy ngòi bút của Hàn Mạc Tử đã đạt đến trình độ điêu luyện trong việc sáng tạo nên những kết hợp từ ngữ mới: mùa xuân chín, bóng xuân sang, đám xuân xanh, tiếng ca vắt vẻo, nghe ra ý vị và thơ ngây. Tất cả những gì trừu tượng, không thể cảm nhận bằng mắt thường đã được nhà thơ hữu hình hoá một cách thật tài tình, độc đáo. Những nét thơ mới lạ tạo nên tính hiện đại rất riêng trong thơ Hàn Mặc Tử. Hoà cùng với dòng phát triển của Thơ mới trong thời bấy giờ, thơ Hàn Mặc Tử đã tạo ra một lối rẽ riêng - tinh tế, độc đáo và mới lạ.
Thơ Hàn Mặc Tử bộc lộ một thế giới nội tâm mãnh liệt với những cung bậc cảm xúc được đẩy đến tột cùng. Đọc “mùa xuân chín”, ta thấy Hàn Mặc Tử đã mượn bức tranh xuân tươi đẹp, rạo rực, tràn đầy sức sống để bày tỏ cái “xuân chín” trong lòng người. “Chín” trong tình thương, “chín” trong nỗi nhớ về con người, cuộc đời và quê hương. Nổi bật hơn hết là một tấm lòng khát khao giao cảm với cuộc đời, trân trọng cái đẹp và ý thức nâng niu, giữ gìn những gì tinh tuý, đẹp đẽ của cuộc đời. Khao khát ấy trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong những sáng tác của Hàn Mặc Tử, tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc, để tư tưởng trong những dòng thơ còn âm vang mãi cho đến hiện tại.
Phần giới thiệu của tôi đến đây là kết thúc. Cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe. Nếu có câu hỏi và thắc mắc gì, mong mọi người hãy đề đạt. Tôi rất mong có thể trao đổi và lí giải những băn khoăn của mọi người.
Xin chào thầy cô và các bạn, tôi là …………………, học sinh lớp …………………, trường ………………… .
Hôm nay, tôi xin trình bày bài nói giới thiệu và đánh giá về bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử - một thi phẩm đặc sắc của phong trào Thơ mới.
Nhắc đến Hàn Mặc Tử, người đọc thường nghĩ ngay đến một hồn thơ vừa mãnh liệt, say đắm, vừa đau thương và đầy ám ảnh. Thơ ông có lúc dữ dội như tiếng kêu của một linh hồn cô độc, nhưng cũng có khi trong trẻo, tinh khôi đến lạ thường. Mùa xuân chín là một trong những bài thơ đẹp nhất viết về mùa xuân trong phong trào Thơ mới. Bài thơ không chỉ khắc họa bức tranh thiên nhiên tươi đẹp mà còn thể hiện những rung động tinh tế của con người trước tuổi trẻ, tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người.
Ngay từ nhan đề, bài thơ đã gợi nhiều ấn tượng sâu sắc. Người ta thường nói “mùa xuân xanh”, “mùa xuân non”, nhưng Hàn Mặc Tử lại gọi là “mùa xuân chín”. Từ “chín” gợi trạng thái viên mãn, căng đầy sức sống. Tuy nhiên, đó cũng là thời điểm báo hiệu sự phai tàn đang đến gần. Vì vậy, “mùa xuân chín” không chỉ là mùa xuân của thiên nhiên mà còn là mùa xuân của tuổi trẻ và tình yêu đang ở độ rực rỡ nhất.
Mở đầu bài thơ là bức tranh xuân đầy ánh sáng và màu sắc:
“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
Những hình ảnh “nắng ửng”, “khói mơ”, “mái nhà tranh” gợi nên khung cảnh làng quê vừa gần gũi vừa thơ mộng. Ánh nắng không gay gắt mà chỉ “ửng” nhẹ như đôi má hồng của thiếu nữ. Từ láy “lấm tấm vàng” khiến cảnh vật như được phủ lên một lớp nắng óng ánh, đầy sức sống. Không gian xuân hiện lên vừa thực vừa mơ, vừa giản dị mà vẫn rất nên thơ.
Đặc biệt, Hàn Mặc Tử đã làm cho mùa xuân trở nên sống động bằng những cảm nhận rất tinh tế:
“Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”
Từ “trêu” đã nhân hóa ngọn gió thành một sinh thể tinh nghịch, giàu tình ý. “Bóng xuân sang” không chỉ báo hiệu thời gian mà còn gợi cảm giác mùa xuân như một nàng thiếu nữ đang nhẹ nhàng bước đến với cuộc đời. Thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử không tĩnh lặng mà mang linh hồn, mang nhịp rung động của tình xuân.
Không gian xuân tiếp tục được mở rộng ở khổ thơ thứ hai:
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi”
Hình ảnh “sóng cỏ” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nếu trong thơ cổ, cỏ chỉ là màu xanh trải dài đến chân trời thì ở đây, cỏ như đang chuyển động, đang rung lên theo nhịp sống của mùa xuân. Không chỉ thiên nhiên mà con người cũng hòa vào mùa xuân ấy qua tiếng hát của “bao cô thôn nữ”. Tiếng hát ấy làm cho bức tranh xuân thêm rộn ràng, tươi trẻ.
Thế nhưng, ngay giữa lúc mùa xuân đang đẹp nhất, thi sĩ lại bất ngờ cất lên một dự cảm buồn:
“Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…”
Hai câu thơ khiến cảm xúc của bài thơ chùng xuống. “Xuân xanh” là tuổi trẻ của người con gái, còn “theo chồng bỏ cuộc chơi” là quy luật tất yếu của đời người. Qua cảm nhận của Hàn Mặc Tử, đó không chỉ là sự trưởng thành mà còn là dấu hiệu của sự chia lìa, mất mát. Nhà thơ nhìn thấy ngay trong khoảnh khắc đẹp nhất của mùa xuân một nỗi buồn về sự hữu hạn của tuổi trẻ và hạnh phúc.
Ở khổ thơ thứ ba, tiếng hát mùa xuân trở nên mơ hồ và say đắm hơn:
“Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây…”
Tiếng hát không chỉ vang lên trong không gian mà còn như lan tỏa vào cả trời đất. Biện pháp nhân hóa và so sánh khiến thiên nhiên cũng mang tâm trạng, cảm xúc của con người. Từ “hổn hển” diễn tả sự rạo rực, nồng nàn của xuân tình. Có thể nói, trong thơ Hàn Mặc Tử, mùa xuân không chỉ hiện lên bằng màu sắc mà còn bằng hơi thở, âm thanh và nhịp rung động của tâm hồn.
Khổ thơ cuối lại đưa người đọc đến một cảm xúc hoàn toàn khác:
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng”
Từ “sực nhớ” là một điểm rất đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử. Dòng cảm xúc của ông không đi theo logic thông thường mà chuyển đổi bất ngờ như những kỉ niệm vụt hiện trong tâm trí. Từ cảnh xuân hiện tại, nhà thơ bất chợt nhớ về một bóng hình trong quá khứ:
“Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
Câu hỏi bỏ lửng cuối bài gợi một nỗi niềm man mác. “Chị ấy” không chỉ là một con người cụ thể mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp xuân thì đã đi qua trong kí ức thi sĩ. Đó là nỗi tiếc nuối trước sự trôi chảy của thời gian và tuổi trẻ.
Về nghệ thuật, bài thơ có nhiều nét đặc sắc. Trước hết là hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, vừa thực vừa mộng. Ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu nhạc điệu và cảm xúc. Hàn Mặc Tử còn sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc như nhân hóa, so sánh, từ láy giàu giá trị biểu cảm. Đặc biệt, bài thơ mang kiểu liên kết cảm xúc rất riêng của Hàn Mặc Tử: dòng tâm tư bất định với những chuyển đổi đột ngột, tạo nên vẻ huyền ảo và bí ẩn cho thi phẩm.
Qua Mùa xuân chín, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân mà còn thấy được tâm hồn nhạy cảm, yêu đời tha thiết của Hàn Mặc Tử. Đó là một tâm hồn vừa say mê trước vẻ đẹp của cuộc sống, vừa đau đáu nỗi lo âu trước sự phai tàn của tuổi trẻ và hạnh phúc con người.
Phần trình bày của tôi đến đây là hết. Xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe!
Xin chào thầy cô và các bạn, tôi là ………………… học sinh lớp …………… trường …………………
Hôm nay, tôi xin trình bày bài nói giới thiệu và đánh giá về nội dung, nghệ thuật của bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử.
Không biết mùa xuân có từ bao giờ và thơ xuân có từ bao giờ, chỉ biết rằng từ rất lâu rồi, mùa xuân đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca Việt Nam. Mỗi nhà thơ lại có một cách cảm nhận riêng về mùa xuân: có “mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, có “xuân xanh” của Nguyễn Bính, và đến với Hàn Mặc Tử, ta bắt gặp một “mùa xuân chín” vừa mới lạ, vừa rạo rực, vừa mang sức sống căng đầy của tuổi trẻ và tình yêu cuộc sống.
Ngay từ những câu thơ mở đầu, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh xuân đầy ánh sáng và hương sắc:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
Mùa xuân hiện lên thật nhẹ nhàng, tinh khôi qua hình ảnh “làn nắng ửng”. Tác giả không dùng tia nắng hay ánh nắng mà dùng từ “làn nắng”, khiến cho ánh xuân trở nên mềm mại, mỏng nhẹ như có hồn. Cùng với “khói mơ tan”, bức tranh xuân vừa thực vừa mơ, vừa dân dã vừa thơ mộng. Hình ảnh “đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng” gợi nên vẻ đẹp bình yên của làng quê Việt Nam trong nắng xuân dịu nhẹ.
Đặc biệt, câu thơ:
“Sột soạt gió trêu tà áo biếc”
đã khiến cảnh vật như có sự sống và tình cảm. Chữ “trêu” rất tinh tế, gợi sự tinh nghịch, tình tứ của gió xuân. Thiên nhiên không còn vô tri mà trở nên gần gũi, có cảm xúc như con người. Và rồi:
“Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”
Mùa xuân hiện lên thật nhẹ nhàng qua hình ảnh “bóng xuân”. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một không gian xuân vừa trong trẻo vừa giàu chất thơ.
Không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên, bài thơ còn tràn đầy sức sống của con người:
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi.”
Hình ảnh “sóng cỏ” gợi những làn cỏ xanh dập dờn trong gió xuân. Màu xanh ấy như lan mãi đến tận chân trời, tạo cảm giác mênh mông, tươi non và đầy sức sống. Giữa không gian ấy là tiếng hát của những cô thôn nữ trẻ trung, hồn nhiên.
Tuy nhiên, giữa niềm vui xuân rạo rực, nhà thơ lại chợt thoáng buồn:
“Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
Hai câu thơ như một lời tiếc nuối về tuổi trẻ và mùa xuân đời người. Mùa xuân đẹp nhưng cũng rất ngắn ngủi. Những cô gái hôm nay còn vô tư ca hát, ngày mai đã trưởng thành, phải rời bỏ tuổi xuân hồn nhiên để bước sang một chặng đời khác. Qua đó, ta thấy được tâm hồn nhạy cảm và giàu suy tư của Hàn Mặc Tử.
Đến khổ thơ tiếp theo, tiếng hát mùa xuân càng trở nên tha thiết:
“Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây”
Tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giàu sức gợi như “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ” để diễn tả âm thanh mùa xuân. Tiếng hát không chỉ vang lên trong không gian mà còn hòa quyện với thiên nhiên, với mây nước. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được sử dụng rất tinh tế, khiến âm thanh như có hình khối, có hơi thở và cảm xúc.
Khổ thơ cuối mang một nỗi niềm bâng khuâng sâu lắng:
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng”
Giữa mùa xuân đẹp nhất, nhân vật trữ tình lại “sực nhớ làng”, nhớ về một người con gái trong kí ức:
“Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
Câu hỏi cuối bài không có lời đáp, để lại dư âm man mác buồn. Đó không chỉ là nỗi nhớ quê hương mà còn là nỗi tiếc nuối tuổi xuân, tiếc nuối những điều đẹp đẽ đang dần trôi qua.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công ở việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc. Hàn Mặc Tử đã kết hợp hài hòa giữa chất dân dã của làng quê Việt Nam với vẻ lãng mạn, tinh tế của thơ mới. Các từ láy như “lấm tấm”, “sột soạt”, “vắt vẻo”, “hổn hển” góp phần tạo nên nhạc điệu sống động cho bài thơ. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ và chuyển đổi cảm giác để làm nổi bật vẻ đẹp của mùa xuân và tâm trạng con người.
Có thể nói, Mùa xuân chín là một trong những bài thơ xuân đặc sắc nhất của Hàn Mặc Tử. Bài thơ không chỉ tái hiện một bức tranh xuân tươi đẹp, trong trẻo mà còn thể hiện tâm hồn tha thiết yêu đời nhưng luôn mang nỗi buồn cô đơn, tiếc nuối của nhà thơ. Qua đó, chúng ta càng thêm yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, quê hương và biết trân trọng tuổi trẻ, những khoảnh khắc đẹp của cuộc sống.
Bài nói của tôi đến đây là hết. Xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
3. Trao đổi
|
Người nghe |
Người nói |
|
- Chia sẻ những điểm bạn thấy hợp lý và hấp dẫn trong bài thuyết trình. - Nêu những điểm còn gây băn khoăn ở bài thuyết trình, góp ý, bổ sung một số nội dung giúp bài nói hoàn thiện hơn. Có thể dựa vào những tri thức ngữ văn trong bài để trao đổi về nội dung và các thao tác phân tích của người nói. - Đưa ra góc nhìn khác hay cách cảm thụ khác của mình đối với bài thơ. - Có thể đặt một số câu hỏi để người nói chia sẻ thêm những cảm xúc về bài thơ |
- Trả lời những thắc mắc từ phía người nghe - Thể hiện thái độ tiếp thu chân thành đối với những đóng góp xác đáng, nghiêm túc. - Tự đánh giá phần trình bày của mình và chia sẻ thêm về cách trình bày đã lựa chọn. - Phản hồi và trao đổi với các ý kiến khác với tinh thần tôn trọng và cầu thị. Lưu ý: cả người nói và người nghe cùng bổ sung những yêu cầu phải đảm bảo khi giới thiệu, đánh giá với một tác phẩm thơ. |
- Trao đổi trực tiếp hoặc sử dụng bảng sau để đánh giá phần trình bày của người nói