Soạn bài Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ (trang 61) - Kết nối tri thức
Soạn bài Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ (trang 61) - Kết nối tri thức
Với soạn bài Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ trang 61, 62, 63, 64, 65, 66 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.
Soạn bài Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ (trang 61) - Kết nối tri thức
Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không phải là một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Kiểu bài viết này đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết. Bởi vậy, người viết cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích, đánh giá thuyết phục. Mặt khác, kiểu bài này cũng vẫn khuyến khích người viết thể hiện những rung cảm và tưởng tượng của mình khi chiếm lĩnh bài thơ.
Yêu cầu
- Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, khuynh hướng, trào lưu văn học gắn với bài thơ, lý do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá).
- Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh, ...)
- Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa nhân sinh.
Phân tích bài viết tham khảo
Những điệu xanh của mùa xuân (Đọc Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính)
- Luận điểm 1: Nêu ấn tượng trước sự gợi mở của nhan đề và câu mở đầu bài thơ
- Luận điểm 2: Phân tích mạch triển khai hệ thống hình ảnh trong bài thơ
- Luận điểm 3: Phân tích phép đối, phép điệp và hiệu quả thẩm mĩ mà các phép tu từ này gợi ra
- Luận điểm 4: Liên hệ, so sánh với thơ truyền thống để làm rõ những nét mới mẻ của bài thơ
- Luận điểm 5: Khẳng định giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân bản của bài thơ.
*Trả lời câu hỏi
Câu 1 (trang 64 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)
- Cách cảm nhận phân tích bài thơ theo trình tự tuyến hình ảnh dọc bài thơ, trình tự câu thơ, khổ thơ giúp người đọc có thể theo dõi mạch cảm xúc bài thơ theo một trật tự tuyến tính, không bỏ sót những hình ảnh, từ ngữ quan trọng. Đây là cách phân tích dễ đọc, dễ hiểu và dễ quan sát đối với bạn đọc.
- Tác giả bài viết cảm nhận và phân tích bài thơ Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính theo hai tuyến song song: tuyến hình ảnh trải dọc bài thơ và tuyến trình tự câu thơ, khổ thơ.
+ Theo tuyến hình ảnh, người viết lần lượt phân tích các hình ảnh: bầu trời, lá, lúa, cỏ, lũy tre, cái thắt lưng xanh… để làm nổi bật sắc “xanh” xuyên suốt bài thơ.
+ Theo trình tự câu thơ, khổ thơ, bài viết đi từ nhan đề, câu mở đầu đến từng cặp câu, từng khổ thơ để khám phá sự vận động của cảm xúc và ý nghĩa của tác phẩm.
- Cách cảm nhận và phân tích này có những ưu thế nổi bật:
+ Giúp người đọc thấy được sự thống nhất trong hệ thống hình ảnh và cảm hứng của bài thơ.
+ Làm rõ quá trình triển khai cảm xúc, ý tưởng của nhân vật trữ tình.
+ Vừa bao quát được chủ đề chung của tác phẩm, vừa đi sâu được vào giá trị của từng chi tiết nghệ thuật.
+ Tạo nên cách phân tích tự nhiên, logic, giàu sức thuyết phục.
Câu 2 (trang 64 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)
- Trong bài văn nghị luận phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ, thực chất của việc phân tích chủ đề là chỉ ra được những đặc sắc nghệ thuật của bài, bao gồm: từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh,...
- Trong bài nghị luận phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ, thực chất của việc phân tích chủ đề là:
+ Làm rõ nội dung tư tưởng, tình cảm mà bài thơ gửi gắm.
+ Chỉ ra cách nhà thơ thể hiện chủ đề ấy qua hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu, biện pháp nghệ thuật và cảm xúc trữ tình.
+ Qua đó giúp người đọc hiểu được ý nghĩa nhân văn và giá trị thẩm mĩ của tác phẩm.
Câu 3 (trang 64 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)
- Người viết đánh giá: “Mùa xuân xanh” là bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hoà giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi. Những giá trị nhân bản ấy lại được thể hiện bằng một thứ ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị nhưng vẫn có tính hiện đại.
- Đây là một đánh giá vô cùng thuyết phục bởi nó được đặt ở kết bài, tác giả nêu ra những khái quát chung nhất về bài thơ qua những luận điểm đã phân tích ở trên. Nội dung bài thơ “niềm vui sống, sự chan hoà giữa con người với tạo vật, khúc dạo đầu của tình yêu” được chứng minh qua hệ thống “ngôn từ thơ ca tự nhiên, giản dị mà hiện đại” với các luận điểm rõ ràng, luận chứng thuyết phục đã được tác giả đưa ra.
- Người viết đánh giá bài thơ Mùa xuân xanh là:
+ Bài thơ của niềm vui sống, của sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên.
+ Khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi.
+ Một tác phẩm mang vẻ đẹp “chân quê” nhưng vẫn có nét hiện đại của phong trào Thơ mới.
+ Bài thơ có ngôn ngữ giản dị, tự nhiên mà giàu sức gợi, vì thế vẫn “xanh mãi trong tâm trí người đọc”.
- Đánh giá đó có tính thuyết phục cao vì:
+ Được xây dựng trên những phân tích cụ thể về hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu và biện pháp nghệ thuật của bài thơ.
+ Người viết kết hợp giữa cảm nhận tinh tế và lí lẽ rõ ràng.
+ Có sự đối chiếu với thơ ca truyền thống và thơ mới để làm nổi bật nét riêng của bài thơ.
*Thực hành viết
1. Chuẩn bị viết
- Lựa chọn bài thơ sẽ được phân tích, đánh giá. Cân nhắc để chọn đúng bài thơ đã thật sự làm bạn rung cảm và tin vào giá trị nghệ thuật của nó.
- Tìm đọc tham khảo những bài viết, ý kiến liên quan đến bài thơ bạn sẽ phân tích, đánh giá
2. Tìm ý, lập dàn ý
a. Tìm ý
- Đọc lại bài thơ đã lựa chọn. Có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng để cảm nhận đầy đủ hơn về âm điệu, nhịp điệu của nó. Chú ý những cách diễn đạt lạ, có thể lần đầu mình bắt gặp và những hình ảnh gây ấn tượng. Sau khi đọc, hãy suy nghĩ vì sao bài thơ lại có những cách tổ chức và kết hợp ngôn từ đặc biệt như vậy?
- Thử liên kết âm điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh của bài thơ và chú ý xem mạch liên kết này có thể đem đến cho bạn sự bất ngờ nào trong cảm xúc, liên tưởng và nhận thức.
- Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng tác, chú ý bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.
- Khi phân tích nghệ thuật của bài thơ, chú ý vận dụng các thao tác so sánh và liên tưởng một cách thích hợp.
- Cần tập trung vào những phương diện hình thức nghệ thuật và nội dung của bài thơ mà người đọc xem là độc đáo, mới mẻ, thú vị.
- Khi đánh giá bài thơ, cần chú ý đầy đủ các giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn của nó.
b. Lập dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, thời điểm ra đời, nơi xuất bản, đánh giá chung của dư luận,....) và nêu các vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết.
- Thân bài
+ Phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình (nhân vật trữ tình muốn biểu đạt điều gì, thông qua hình tượng nào, với cái nhìn và thái độ ra sao...)
+ Phân tích, đánh giá sự phát triển của hình tượng chính (qua các khổ, đoạn trong bài) và tính độc đáo của những phương tiện ngôn từ đã được sử dụng (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ,...)
+ Phân tích, đánh giá nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề tài, chủ đề, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả khác)
- Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ đối với người viết bài nghị luận.
Gợi ý dàn ý bài văn nghị luận về bài thơ “Mùa xuân chín” (Hàn Mặc Tử)
I – Mở bài
- Giới thiệu Hàn Mặc Tử là một nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới, theo đuổi chủ nghĩa tượng trưng siêu thực
- “Mùa xuân chín” lag một sáng tác của Hàn Mạc Từ trích trong tập “Đau thương” (1938)
II – Thân bài
1. Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
- Mạch cảm xúc bài thơ đi từ bức tranh ngoại cảnh đến bức tranh tâm cảnh, từ cảnh xuân đến tình xuân.
- Nhan đề “mùa xuân chín”
2. Cảnh xuân
- Nhà thơ vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa xuân rực rỡ, tươi đẹp, tràn đầy sức sống
+ Dấu hiệu báo xuân sang: nắng ửng, khói mơ, mái nhà tranh, tà áo biếc, giàn thiên lý
+ Những kết hợp từ độc đáo: nắng ửng, khói mơ tan, sóng cỏ, đám xuân xanh
+ Nghệ thuật đảo ngữ “sột soạt gió trêu tà áo biếc”
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “bóng xuân sang”, “tiếng ca vắt vẻo”
=> Khung cảnh làng quê thanh bình, yên ả mà đằm thắm yêu thương.
3. Tình xuân
- Nhà thơ thể hiện nỗi nhớ quê, niềm khát khao giao cảm với cuộc đời
+ Niềm vui của con người khi xuân đến: “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
+ Tình yêu đời, khao khát giao hoà với cuộc đời: “Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi / Hổn hển như lời của nước mây”
+ Nỗi nhớ làng quê da diết: “Khách xa gặp lúc mùa xuân chín / Lòng trí bâng khuâng sự nhớ làng”.
4. Nét hấp dẫn, độc đáo riêng của bài thơ
- So sánh “Mùa xuân chín” với thơ Đường, từ đó làm rõ tính cổ điển và hiện đại trong bài thơ.
III – Kết bài
- Khẳng định giá trị thẩm mĩ, tư tưởng của bài thơ
*Viết
Bài viết tham khảo
Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn từng nhận định: “Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng thơ cất lên từ sự hủy diệt để hướng về sự sống”. Quả đúng là như vậy đọc thơ Hàn Mặc Tử ta luôn thấy một tấm lòng khao khát yêu đời, khao khát sống. Một trong số đó là bài thơ “Mùa xuân chín”. Bài thơ được rút trong tập “Đau thương” (1938) – được coi là “tiếng thơ thuộc loại trong trẻo nhất của Hàn Mặc Tử”, trong trẻo song cũng đầy bí ẩn, đau thương.
“Mùa xuân chín” gây ấn tượng với bạn đọc bởi chính nhan đề của nó. Bởi lẽ, đọc thơ của Hàn Mặc Tử, ta luôn thấy một sự u huyền, mơ mộng, kì bí, đượm buồn và đau thương với những hình ảnh đặc trưng là “máu”, “trăng” và “rượu”. Thế nhưng, “mùa xuân chín” lại mang đến một cảm giác hoàn toàn mới lạ, một không gian tràn đầy sức sống của cảnh xuân và tình xuân. “Chín” vốn là tính từ để chỉ trạng thái của quả cây khi đã đến giai đoạn thu hoạch, ngọt ngào, căng mọng và thơm mát. Với ý nghĩa đó, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một “mùa xuân chín” – một mùa xuân tràn đầy sức sống, viên mãn và tròn đầy. Mùa xuân đang ở độ tươi đẹp nhất, rạng rỡ nhất, căng tràn nhựa sống nhất.
Mạch thơ là dòng tâm tư bất định với những chuyển kênh bất chợt. Về thời gian, tác giả đang say đắm trong thời khắc hiện tại với cảnh xuân tươi đẹp phô bày trước mắt, bỗng sực nhớ về quá khứ xa căm với khung cảnh làng quê thân thương. Về cảnh sắc, bức tranh xuân đang từ ngoại cảnh (mái nhà tranh, giàn thiên lí, sóng cỏ xanh tươi,...) thoắt biến thành tâm cảnh ( người con gái dánh thóc dọc bờ sông trắng). Về cảm xúc, Hàn Mặc Tử đã bày tỏ dòng tâm tư của bản thân với nhiều bước ngoặt: từ niềm say mê, rạo rực đến trạng thái bâng khuâng, xao xuyến rồi buồn thương da diết. Có thể thấy, mạch thơ không đi theo một chiều mà luôn vận động vô cùng linh hoạt, phong phú. Đó chính là phong cách thơ độc đáo của chàng thi sĩ họ Hàn.
Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên tươi mới, ngập tràn ánh sáng, ngập tràn sắc xuân:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”.
Thiên nhiên mùa xuân hiện ra ngập tràn sắc vàng của nắng hoà trong làn sương khói mờ ảo, huyền bí. Cách kết hợp từ “khói mơ tan” khiến ta hình dung những làn khói sương như đang hoà tan trong nắng tạo nên một khung cảnh đẹp như mơ. Sắc vàng của nắng càng trở nên rực rỡ với hình ảnh “đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Trong khung cảnh thanh bình, yên ả ấy bỗng nhà thơ bắt gặp tiếng “sột soạt” của “gió trêu tà áo biếc”. Biện pháp đảo ngữ và nhân hoá đã được nhà thơ sử dụng thật tài tình. “Sột soạt” được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh của động của cảnh vật. Gió như đang trêu đùa cùng tà áo biếc đón xuân sang, khiến không khí mùa xuân trở nên sôi động, vui tươi, đầy hứng khởi. Từ mái nhà tranh, nhà thơ di chuyển điểm nhìn đến “giàn thiên lí”. Dấu chấm đặt giữa câu thơ như một sự ngập ngừng, ngắt quãng. Bởi đó là khoảnh khắc thi nhân giật mình nhận ra “bóng xuân sang”. Mùa xuân được hữu hình hoá, có thể quan sát bằng thị giác. Bóng của mùa xuân nhẹ nhàng bước tới như thể đang đứng trước mặt nhà thơ, khiến con người ngỡ ngàng mà chiêm ngưỡng cái sắc xuân tươi đẹp ấy.
Từ điểm nhìn cận cảnh, Hàn Mạc Tử đưa tầm mắt ra xa với cái nhìn viễn cảnh. Không gian mùa xuân được rộng mở với “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. “Sóng” được kết hợp với thảm có xanh mướt khiến bạn đọc hình dung từng lớp cỏ như nối tiếp nhau, trải dài bất tận, sức sống dường như đang căng tràn một cách mãnh liệt. Ý thơ làm ta nhớ đến một câu thơ trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” của Nguyễn Du: “Cỏ non xanh tận chân trời”. Cùng diễn tả một không gian mùa xuân với thảm cỏ xanh mướt trải dài bất tận nhưng cái độc đáo của Hàn Mặc Tử là cách nói “sóng cỏ” gợi ra một sự uyển chuyển, nhẹ nhàng mà mượt mà của những lớp cỏ xuân. Phải chăng sức sống cuộn trào từ bên trong, tạo thành những đợt sóng và kết lại tạo nên một “mùa xuân chín”!
Từ cảnh thu, Hàn Mạc Tử bỗng chuyển sang tình thu, bức tranh ngoại cảnh trở về với bức tranh tâm cảnh. Phải chăng, nhà thơ dùng cảnh mở đầu là để nói tình, tả tình? Một cái tình nồng hậu, thiết tha với con người và cuộc đời. Hoà cùng với không khí tươi vui của mùa xuân, ta thấy được cái náo nức trong lòng người:
“Bao cô thôn nữ hát trên đồi
-Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
“Xuân xanh” là một ẩn dụ để chỉ những cô gái trẻ trung, xinh đẹp. Tuổi xuân của họ tươi đẹp, rực rỡ như mùa xuân của đất trời. Chính vì vậy, niềm vui của những cô thôn nữ hoà trong không khí mùa xuân chính là tình xuân. Cái ửng của nắng phải chăng chính là đôi má ửng hồng của các cô gái khi “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Niềm vui của họ là tình yêu đôi lứa, là sự gắn kết trong hôn nhân đến bạc đầu. “Mùa xuân chín” không chỉ là tiết trời xuân mà còn là tình xuân. Cái “chín” trong tình yêu chính là kết quả nên vợ nên chồng. Niềm hạnh phúc của những cô gái được thể hiện trong “tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi”. Hàn Mặc Tử đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác thật tài tình. “Tiếng ca” vốn được cảm nhận bằng thính giác, nay được hữu hình hoà trong trạng thái “vắt vẻo”, cảm nhận bằng thị giác. Tiếng hát ca say sưa của con người như có sức hút, cao vút đến lưng chừng núi thể hiện niềm thiết tha yêu đời mãnh liệt. Dư âm của tiếng hát dường như còn ngập ngừng mà “vắt vẻo lưng chừng núi” tạo nên một âm thanh vang vọng khắp không gian. Xuân tình từ thiên nhiên lây lan, giao ứng với xuân tình trong lòng người, cả hai nhập vào nhau trong cùng một tiếng hát. Là tiếng hát của những cô thôn nữ mà cũng là tiếng hát của nước mây. Thiên nhiên và con người đồng ca, đồng vọng hay tiếng hát trong lòng thiên nhiên đang cất lên qua lời hát của con người.
Từ âm thanh cao vút, hổn hển như lời của nước mây bỗng trở thành những lời thầm thì nhỏ bé:
“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây”
Câu thơ phảng phất tính tượng trưng, siêu thực trong thơ Hàn Mạc Tử. Đại từ “ai” xuất hiện như “bóng ai đậu bến sông trăng đó” (Đây thôn Vĩ Dạ) đầy bí ẩn. “Tiếng ca” vốn vang xa khắp núi rừng nay thu lại chỉ dành cho “ai”. Đó có thể là người thương, cũng có thể là với chính bản thân mình. Để rồi, khi tâm tình, sẻ chia, con người có thể lắng nghe được những “ý vị và thơ ngây” trong lòng mình. Tuy nhiên, câu thơ cũng mang theo nỗi buồn, niềm nuối tiếc của người thi sĩ trước “mùa xuân chín”. Bởi “xuân chín” rồi cũng là lúc “xuân tàn”, cái đẹp rồi cũng sẽ tàn phai. “Đám xuân xanh ấy” rồi cũng “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Tuổi xuân tươi đẹp của người thiếu nữ rồi cũng có điểm kết. Ta thấy dâng lên trong lòng nhà thơ một nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến, muốn níu giữ cái hương sắc tươi đẹp của cuộc đời. Để rồi, kết thúc bài thơ, Hàn Mặc Tử hoá thân trong một người “khách xa”, bày tỏ nỗi nhớ nhung của mình:
“Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
-Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”.
Trước “mùa xuân chín”, lòng “khách xa” bỗng trào dâng nỗi nhớ làng quê thân thương. Nhớ làn nắng ửng, nhớ đôi mái nhà tranh, nhớ tà áo biếc và nhớ cả giàn thiên lý. Đó là một không gian làng quê mộc mạc, giản dị, gần gũi mà chan chứa nghĩa tình. Và trong không gian ấy, hình ảnh người chị gánh thóc trở thành trung tâm của nỗi nhớ. “Chị ấy” là một cách nói phiếm chỉ. Đó có thể là một người dân lao động bình thường nơi thôn quê của tác giả, cũng có thể là một người thân quen gần gũi, hoặc cũng có thể là cô người yêu của thi nhân. Thế nhưng, dù hiểu theo cách nào, ta cũng thấy một niềm yêu quý và trân trọng của tác giả đối với “chị”. Người con gái xuất hiện trong nét đẹp lao động với tư thế gánh thóc, hoà cùng ánh nắng vàng bên bờ sông trắng. Một khung cảnh hiện lên thật thơ mộng, lãng mạn biết bao! Ta có thể thấy ánh nắng xuân lúc này càng trở nên long lanh, lấp lánh hơn trong dòng hồi tưởng của người khách xa quê.
Như vậy, bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử có sự hài hoà của sắc xuân, tình xuân. Không chỉ mùa xuân chín mà lòng người cũng “chín” với khát khao giao cảm với cuộc đời, “chín” với tình yêu và nỗi nhớ. Một nét đặc trưng tiêu biểu làm nên sự độc đáo của “Mùa xuân chín” cũng như ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử chính là sự kết hợp tài tình giữa cái cổ điển và cái hiện đại. Trước hết, ta bắt gặp thơ Hàn Mặc Tử có những điểm giao thoa với thể thơ Đường luật, tạo nên một nét thơ phảng phất phong vị cổ điển, trang trọng. “Mùa xuân chín” được sáng tác theo thể thơ bảy chữ, ngắt nhịp 4/3. Thất ngôn và ngắt nhịp 4/3 là đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường luật. Ngoài ra, cách gieo vần cuối những câu thơ 1, 2, 4 cũng là một điểm giao thoa với thể thơ Đường luật. Đó là những yếu tố làm nên phong vị cổ điển trong thơ Hàn Mặc Tử. Về tính hiện đại, thi sĩ họ Hàn là người chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực. Một trong những đặc điểm tiêu biểu của thơ tượng trưng siêu thực đó là tạo nên những hình ảnh huyền ảo, kì bí, thậm chí là ma mị bằng những kết hợp từ mới mẻ, độc đáo thông qua nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Có thể thấy ngòi bút của Hàn Mạc Tử đã đạt đến trình độ điêu luyện trong việc sáng tạo nên những kết hợp từ ngữ mới: mùa xuân chín, bóng xuân sang, đám xuân xanh, tiếng ca vắt vẻo, nghe ra ý vị và thơ ngây. Tất cả những gì trừu tượng, không thể cảm nhận bằng mắt thường đã được nhà thơ hữu hình hoá một cách thật tài tình, độc đáo. Những nét thơ mới lạ tạo nên tính hiện đại rất riêng trong thơ Hàn Mặc Tử. Hoà cùng với dòng phát triển của Thơ mới trong thời bấy giờ, thơ Hàn Mặc Tử đã tạo ra một lối rẽ riêng - tinh tế, độc đáo và mới lạ.
Thơ Hàn Mặc Tử bộc lộ một thế giới nội tâm mãnh liệt với những cung bậc cảm xúc được đẩy đến tột cùng. Đọc “mùa xuân chín”, ta thấy Hàn Mặc Tử đã mượn bức tranh xuân tươi đẹp, rạo rực, tràn đầy sức sống để bày tỏ cái “xuân chín” trong lòng người. “Chín” trong tình thương, “chín” trong nỗi nhớ về con người, cuộc đời và quê hương. Nổi bật hơn hết là một tấm lòng khát khao giao cảm với cuộc đời, trân trọng cái đẹp và ý thức nâng niu, giữ gìn những gì tinh tuý, đẹp đẽ của cuộc đời. Khao khát ấy trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong những sáng tác của Hàn Mặc Tử, tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc, để tư tưởng trong những dòng thơ còn âm vang mãi cho đến hiện tại.
Hàn Mặc Tử là một thi sĩ có phong cách thơ rất riêng biệt, độc đáo. Ông để lại cho đời nhiều tập thơ nổi tiếng như Gái Quê, Thơ Điên hay Chơi Giữa Mùa Trăng. Bài thơ “Mùa xuân chín” là một bài thơ tiêu biểu, góp phần làm nên tên tuổi của nhà thơ.
Tựa đề bài thơ đầy ấn tượng” Mùa xuân chín”, ta nghe như có sự mềm mại, hương thoang thoảng của vị xuân rạo rực mà không kém phần đằm thắm, ý tứ chất chồng những tầng sâu ý nghĩa khiến ta tò mò muốn khám phá, thôi thúc ta đi sâu vào nội dung tác phẩm để khám phá nét “chín” của mùa xuân trong thơ Hàn Mặc Tử ra sao.
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lý bóng xuân sang”
Bức tranh mùa xuân chốn thôn quê thật thanh bình, duyên dáng mà đằm thắm yêu thương. Trong làn nắng nhẹ của của bầu trời, làn khói xa như tan đi, tạo nên vẻ đẹp như mơ như thực, không quá chi tiết, chỉ đôi nét chấm phá nhưng khiến ta không khỏi xuyến xao trước khung trời đầy yên bình lúc này. Trên những mái nhà tranh nơi quê nghèo lấm tấm màu hoa thiên lý điểm tô, cơn gió nhẹ đung đưa những chiếc lá xanh biếc tạo nên thứ âm thanh lạ lùng” sột soạt”, tất cả đều quá đỗi nhẹ nhàng mà thân thương. Mùa xuân đang len lỏi vào cảnh vật, trên giàn thiên lý báo xuân về, mùa xuân đến, cây cỏ, thiên nhiên, đất trời, và lòng người như hoà quyện lấy nhau:
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi;”
Vạn vật mang sức xuân, làn mưa xuân tưới thêm cho cỏ cây sức sống mới đầy xanh tươi “gợn tới trời” như đang đùa giỡn với nắng, với gió với mây. Tiếng hát đón xuân của bao cô gái thôn quê đầy tình tứ, mùa xuân đến khiến ai cũng vui tươi, phấn khởi, tâm hồn đầy trẻ trung, yêu đời. Giai điệu nhạc cất lên cùng lời ca:
”Ngày mai trong đám xuân xanh ấy Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.”
Niềm vui xuân hoà cùng niềm vui của hạnh phúc lứa đôi, thế là ngày mai trong đám cô thôn nữ ấy, có người đi lấy chồng bỏ lại sau lưng những cuộc vui, có chút gì đó tiếc nuối đan xen trong niềm vui ấy. Mùa xuân điểm tô cho đời, kết nên quả ngọt cho tình yêu, mùa của niềm hạnh phúc tràn đầy.
“Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây…”
Niềm yêu đời họa trong lời hát thơ ngây, trong sáng, tinh nghịch “tiếng ca vắt vẻo” trên lưng núi, hoà vào cảnh vật, âm vang mãi. Những âm thanh như đang chuyển động theo nhịp thời gian, “hổn hển” “thì thầm” với nhau đầy ý vị, thân thương. Tiếng thơ nghe sao khiến người bâng khuâng, xao xuyến đến lạ kỳ.
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
Nếu ở khổ thơ đầu là hình ảnh cỏ cây tươi xanh thì đây chính là hình ảnh đối lập khi xuân chín, xuân đã không còn thơ mộng như khi vừa sang nữa, nó mang màu của nỗi tiếc nuối ngậm ngùi, mang màu của nắng gió thôn quê: “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. m “ang” cuối bài làm cho câu thơ mang tâm trạng mênh mang khó tả, như nỗi lòng thì nhân đang băn khoăn, trĩu nặng xót xa về thân phận người con gái:
”Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”
Nếu ngày xưa khi đang tuổi xuân thì, nhịp xuân sang cùng lòng bao cô gái ngân nga lời ca, tiếng hát chào mừng thì giờ đây khi xuân chín, xa rời xuân xanh năm nào, “chị ấy” giờ trở thành một người phụ nữ với bao nỗi lo toan. Trách nhiệm cuộc sống và công việc của người mẹ, người vợ thêm nặng, song, dù vất vả, nhọc nhằn vẫn ánh lên nét đẹp rạng ngời.
Bài thơ thật nhẹ nhàng, ngôn ngữ dù giản dị nhưng được nhà thơ chọn lọc rất tinh tế. Mỗi tiếng thơ thốt lên là cả một bầu trời thương yêu vừa mang nỗi thương cảm vừa mang nỗi nhớ mênh mang chốn quê nhà vất vả, gian nan. Với ngôn ngữ kết tinh cùng tấm lòng hồn hậu của thi nhân, Hàn Mạc Tử đã viết nên một “mùa xuân chín” vẹn tròn, đầy đặn, thiết tha.
Trong phong trào Thơ mới, Hàn Mặc Tử là một hiện tượng đặc biệt. Thơ ông vừa mãnh liệt, say đắm, vừa bí ẩn, ám ảnh; có khi đau thương đến tột cùng nhưng cũng có lúc trong trẻo lạ thường. Nếu Đây thôn Vĩ Dạ là khúc nhạc của nỗi khát khao giao cảm với cuộc đời thì Mùa xuân chín lại là bức tranh xuân chan chứa xuân tình và cũng đầy dự cảm về sự phôi pha của tuổi trẻ, của kiếp người. Qua thi phẩm này, Hàn Mặc Tử không chỉ vẽ nên một mùa xuân đẹp mà còn gửi gắm những rung động sâu kín trước vẻ đẹp mong manh của xuân thì và hạnh phúc nhân sinh.
Ngay từ nhan đề, bài thơ đã gợi một cảm giác rất đặc biệt. Người ta thường nói “xuân xanh”, “xuân non”, nhưng Hàn Mặc Tử lại gọi là “Mùa xuân chín”. “Chín” là trạng thái viên mãn nhất của sự sống, là lúc căng đầy nhựa sống nhưng cũng đồng thời báo hiệu sự tàn phai đang đến gần. Bởi thế, “mùa xuân chín” không chỉ là mùa xuân của đất trời mà còn là mùa xuân của lòng người, của tình yêu và tuổi trẻ đang ở độ nồng nàn nhất.
Bức tranh xuân mở ra bằng những gam màu trong trẻo và ánh sáng dịu dàng:
“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
Không gian làng quê hiện lên thật thân thuộc với “mái nhà tranh”, “giàn thiên lí”, “khói mơ”. Nhưng cảnh vật không tĩnh lặng mà mang hơi thở của một mùa xuân đang vận động. Từ “ửng” gợi sắc nắng hồng nhẹ như má thiếu nữ. Khói không tan hẳn mà “khói mơ tan”, vừa thực vừa ảo, khiến cảnh xuân mang vẻ mộng mị. Đặc biệt, hình ảnh “lấm tấm vàng” làm cho những mái tranh quê như được phủ lên một lớp nắng óng ánh. Đó không chỉ là màu sắc của thiên nhiên mà còn là biểu hiện của sức sống đang lan tràn khắp cảnh vật.
Cảnh xuân ấy càng trở nên tình tứ hơn qua câu thơ:
“Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”
Từ láy “sột soạt” khiến bức tranh như có âm thanh, có nhịp động. Gió không chỉ thổi mà còn “trêu” tà áo biếc — một cách nhân hóa đầy tinh nghịch. “Bóng xuân sang” không đơn thuần là tín hiệu thời gian mà như bước chân của nàng xuân đang ghé đến cõi đời. Cảnh vật vì thế không chỉ đẹp mà còn chan chứa tình ý.
Nếu khổ đầu chủ yếu khắc họa xuân sắc thì khổ thơ thứ hai lại mở rộng không gian xuân và làm nổi bật “xuân tình”:
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi”
Câu thơ “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” là một sáng tạo rất riêng của Hàn Mặc Tử. Cỏ không chỉ “xanh tận chân trời” như trong thơ cổ mà trở thành “sóng cỏ”, có sự rung động, chuyển động, dào dạt sức sống. Dường như cả thiên nhiên đang rạo rực, đang căng đầy nhựa xuân. Trên nền thiên nhiên ấy xuất hiện hình ảnh “bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Con người hòa nhập vào cảnh vật, mang đến cho mùa xuân âm thanh tươi vui, trẻ trung.
Nhưng ngay giữa khung cảnh rộn rã ấy, nhà thơ bất ngờ cất lên một dự cảm buồn:
“Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…”
Giọng thơ bỗng chùng xuống. “Xuân xanh” ở đây là tuổi trẻ của người con gái. “Theo chồng bỏ cuộc chơi” là quy luật tất yếu của đời người nhưng qua cảm nhận của Hàn Mặc Tử, nó lại gợi sự chia lìa, mất mát. Mùa xuân đang ở độ đẹp nhất cũng là lúc người ta linh cảm về sự tàn phai. Đó chính là nét đặc biệt trong cảm quan của thi sĩ: luôn nhìn thấy nỗi buồn ngay giữa khoảnh khắc đẹp tươi nhất của đời sống.
Sang khổ thơ thứ ba, tiếng hát mùa xuân trở nên da diết và mơ hồ hơn:
“Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây…”
“Tiếng ca” không chỉ vang lên trong không gian mà còn “vắt vẻo” giữa trời đất. Từ láy ấy gợi cảm giác chơi vơi, phiêu lãng. Đặc biệt, cách so sánh “Hổn hển như lời của nước mây” khiến âm thanh trở nên hữu hình, giàu cảm xúc. Dường như thiên nhiên và con người đang cùng cất lên tiếng hát của xuân tình. Đó là tiếng hát say mê, nồng nhiệt, mang hơi thở của tuổi trẻ đang độ căng đầy nhất.
Hai câu thơ cuối khổ ba lại đưa cảm xúc về vẻ dịu dàng, kín đáo:
“Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây…”
Những lời “thầm thĩ” gợi không khí tình tự kín đáo, e ấp. “Ý vị và thơ ngây” là vẻ đẹp của tình yêu buổi đầu — trong trẻo, hồn nhiên mà đầy rung động. Đến đây, có thể thấy “Mùa xuân chín” thực chất không chỉ là bài thơ về cảnh xuân mà còn là bài thơ về tình xuân — thứ tình cảm đang dâng lên trong thiên nhiên và trong lòng người.
Khổ thơ cuối là sự chuyển điệu bất ngờ từ rạo rực sang bâng khuâng:
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng”
“Khách xa” là cái tôi cô đơn của thi sĩ. Đứng trước mùa xuân đẹp đến viên mãn, lòng người bỗng dâng lên nỗi nhớ quê hương, nhớ quá khứ. Từ “sực nhớ” diễn tả một dòng tâm tư bất định rất đặc trưng trong thơ Hàn Mặc Tử: cảm xúc chuyển đổi đột ngột, không theo logic thông thường mà theo những liên tưởng bất chợt của tâm hồn.
Nỗi nhớ ấy kết tụ trong hình ảnh cuối bài:
“Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
Câu hỏi bỏ lửng gợi một nỗi niềm man mác. “Chị ấy” là bóng hình của quá khứ, của một vẻ đẹp bình dị mà thi sĩ từng yêu mến. Hình ảnh “bờ sông trắng nắng chang chang” vừa thực vừa giàu chất họa. Đó không chỉ là bức tranh lao động mà còn là kỉ niệm về một thời xuân sắc đã xa. Kết thúc bài thơ là dư âm của nỗi tiếc nuối: tiếc tuổi xuân, tiếc vẻ đẹp mong manh của đời người.
Mùa xuân chín là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của Hàn Mặc Tử. Bài thơ không chỉ vẽ nên bức tranh xuân tươi đẹp mà còn thể hiện một cảm quan nghệ thuật sâu sắc: xuân đẹp nhất cũng là lúc gần phai tàn nhất. Qua những hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ tinh tế và dòng cảm xúc vừa say mê vừa u hoài, nhà thơ đã gửi gắm tình yêu tha thiết với cuộc đời cùng nỗi ám ảnh về sự ngắn ngủi của tuổi trẻ và hạnh phúc con người. Chính điều đó đã làm cho Mùa xuân chín trở thành khúc ca xuân vừa rạo rực vừa man mác buồn, để lại dư vị sâu lắng trong lòng người đọc.
*Chỉnh sửa và hoàn thiện
- Đọc lại và kiểm tra bài viết, đồng thời đối chiếu với các yêu cầu của đề bài, mục đích mà người viết đặt ra
- Thử tóm tắt lại bài viết (khoảng 120 chữ) để tự đánh giá về mức độ chặt chẽ và sự sáng rõ của các luận điểm
- Chỉnh sửa các lỗi về chính tả và ngữ pháp