Soạn bài Mùa xuân chín - Kết nối tri thức

2,597 từ~13 phút đọc

Soạn bài Mùa xuân chín - Kết nối tri thức

Với soạn bài Mùa xuân chín trang 50, 51, 52 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.

Soạn bài Mùa xuân chín - Kết nối tri thức

*Trước khi đọc

Câu hỏi 1 (trang 50 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)

Những bài thơ viết về mùa xuân: Rằm tháng giêng (Hồ Chí Minh), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)

Một số câu thơ, bài thơ về mùa xuân mà mình đã từng đọc:

- Hàn Mặc Tử – “Mùa xuân chín”:

“Trong làn nắng ửng khói mơ tan…”

- Thanh Hải – “Mùa xuân nho nhỏ”:

“Mọc giữa dòng sông xanh…”

- Xuân Diệu:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

→ Những câu thơ này đều gợi mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống và cảm xúc.

Câu hỏi 2 (trang 50 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)

Điều ấn tượng, thích thú ở những bài thơ ấy là đem lại cho bạn đọc một không khí mùa xuân tràn đầy sức sống với những vẻ đẹp của thiên nhiên và sự rộn rã trong lòng người. 

Điều khiến mình ấn tượng ở những câu thơ mùa xuân (như của Hàn Mặc Tử, Thanh Hải, Xuân Diệu) là:

- Hình ảnh rất tươi sáng, giàu sức gợi (nắng, hoa, dòng sông…) làm hiện lên một mùa xuân sống động.

- Ngôn ngữ tinh tế, giàu cảm xúc, mỗi nhà thơ có cách cảm nhận riêng: khi thì trong trẻo, khi thì say mê, nồng nhiệt.

- Mùa xuân không chỉ là cảnh vật mà còn gợi niềm vui sống, hi vọng và tình yêu cuộc đời.

→ Chính sự kết hợp giữa hình ảnh đẹp và cảm xúc chân thành khiến mình thấy thích thú và dễ rung động.

*Trong khi đọc

1. Các vần được gieo trong bài thơ

- vàng – sang, mây – ngây, làng – chang chang

Chủ yếu gieo vần chân, hiệp vần theo từng khổ:

- tan – vàng

- trời – đồi – chơi

- mây – ngây (vần linh hoạt hơn)

- làng – chang chang

→ Vần không gò bó, tạo cảm giác tự nhiên, giàu nhạc điệu.

2. Những từ ngữ có thể gợi ra nhiều nét nghĩa hoặc nhiều khả năng liên tưởng về âm thanh, hình ảnh

- làn nắng ửng, khói mơ tan, lấm tấm vàng, sột sọt gió, tà áo biếc, cỏ xanh tươi, đám xuân xanh, tiếng ca vắt vẻo, mùa xuân chín, khách xa, bờ sông trắng,....

Những từ ngữ gợi nhiều nét nghĩa, liên tưởng

- “khói mơ tan” → vừa thực vừa ảo

- “lấm tấm vàng” → ánh nắng rải nhẹ

- “sột soạt” → gợi âm thanh của gió

- “vắt vẻo” → gợi âm thanh chênh vênh, ngân xa

- “hổn hển” → âm thanh gấp gáp, sống động

- “bâng khuâng” → tâm trạng mơ hồ, xao xuyến

3. Những kết hợp từ ngữ ít gặp trong lời nói thông thường

- nắng ửng, khói mơ, sột soạt gió, sóng cỏ, đám xuân xanh, tiếng ca vắt vẻo, mùa xuân chín, 

Những kết hợp từ ngữ ít gặp

- “khói mơ tan”

- “sóng cỏ xanh tươi”

- “tiếng ca vắt vẻo”

- “hổn hển như lời của nước mây”

- “ý vị và thơ ngây”

→ Những cách kết hợp này tạo nên tính mới lạ, giàu chất thơ và dấu ấn riêng của tác giả.

*Sau khi đọc

Nội dung chính: 

Với màu sắc cổ điển hài hoà với chất dân dã trẻ trung, bình dị, bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mạc Tử đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong sáng, rạo rực, say mê. Qua đó, nhà thơ gửi gắm niềm khát khao giao cảm với cuộc đời, nỗi nhớ làng quê da diết và bày tỏ nỗi trăn trở trước sự hiện hữu của cái đẹp. 

Soạn bài Mùa xuân chín | Hay nhất Soạn văn 10 Kết nối tri thức

* Trả lời sau khi đọc

Câu 1 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- “mùa xuân” là danh từ kết hợp với “chín” là tính từ. Qua đó, tác giả gợi ra cảnh sắc mùa xuân đang ở độ tươi đẹp nhất, viên mãn nhất, tràn đầy sức sống nhất. Trạng thái đó đồng nghĩa với việc mùa xuân tươi đẹp đang trôi qua, cái đẹp không thể tồn tại vĩnh hằng, để lại trong nhà thơ nỗi nuối tiếc khôn nguôi. 

Nhan đề “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử được cấu tạo bởi danh từ “mùa xuân” và tính từ/ động từ “chín”, gợi liên tưởng về một mùa xuân đang ở độ đẹp nhất, tràn đầy sức sống đồng thời cũng là sự chín muồi trong cảm xúc con người.

Câu 2 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- Trạng thái “chín” được thể hiện ra các từ: nắng ửng, giàn thiên lý, bóng xuân sang, sóng cỏ xanh tươi, bờ sông trắng, nắng chang chang

Trạng thái “chín” của mùa xuân trong bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử được thể hiện qua các từ ngữ như: “nắng ửng”, “lấm tấm vàng”, “sóng cỏ xanh tươi”, “gợn tới trời”, “tiếng hát”, “xuân xanh”, “nắng chang chang”, gợi lên một mùa xuân đang ở độ rực rỡ, tràn đầy sức sống và viên mãn nhất.

Câu 3 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- Bài thơ có những kết hợp từ đặc biệt như: 

+ khói mơ tan: trạng thái lan toả của khói và trạng thái mơ của con người được kết hợp với nhau

+ bóng xuân sang: mùa xuân vốn dĩ không thể cảm nhận thành hình khối nhưng nhà thơ dùng cách nói “bóng xuân sang” như một cách hữu hình hoá mùa xuân

+ sóng cỏ: sóng là từ để gợi tả những làn nước nhấp nhô kết hợp với hình ảnh “cỏ” đã gợi ra một thảm cỏ xanh tươi trải dài bất tận

+ tiếng ca vắt vẻo: “tiếng ca” vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng lại được tác giả hữu hình hoá cảm nhận bằng thị giác qua cách nói “vắt vẻo”

+ mùa xuân chín: “chín” là từ để chỉ trạng của trái cây vào giai đoạn phát triển đầy đủ nhất, có màu đỏ hoặc vàng và có thể ăn, được tác giả kết hợp sử dụng để chỉ trạng thái mùa xuân vào lúc viên mãn nhất. 

- Ngôn từ trong bài thơ đã gợi lên một khung cảnh mùa xuân rực rỡ, tràn ngập ánh sáng, tươi đẹp, căng tràn sức sống. 

- Sự lựa chọn và kết hợp ngôn ngữ

+ Tác giả dùng nhiều từ ngữ giàu tính tạo hình và gợi cảm: “khói mơ tan”, “lấm tấm vàng”, “sóng cỏ”, “tiếng ca vắt vẻo”, “hổn hển”…

+ Các kết hợp từ mới lạ, giàu chất thơ (như “khói mơ”, “sóng cỏ”, “tiếng ca vắt vẻo”) tạo cảm giác vừa thực vừa ảo.

→ Gây ấn tượng mạnh vì ngôn từ không chỉ tả mà còn khơi gợi cảm giác và cảm xúc tinh tế.

- Khung cảnh mùa xuân được gợi lên

+ Một bức tranh xuân rực rỡ, tràn đầy sức sống: nắng vàng, cỏ xanh, không gian rộng mở.

+ Có âm thanh và con người (tiếng hát thôn nữ) làm cảnh thêm sinh động.

+ Đồng thời phảng phất nét bâng khuâng, man mác trong cảm xúc.

→ Ngôn từ đã vẽ nên một mùa xuân đẹp, giàu sức sống nhưng cũng rất giàu chất trữ tình.

Câu 4 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- Bài thơ được ngắt nhịp 4/3, đặc biệt có những câu thơ tác giả đặt dấu chấm, phẩy để nhấn mạnh hơn vào nhịp điệu của bài:

“Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”

“Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi”.

- Cách gieo vần: vàng – sang, trắng – nắng, chang – chang. Các vần kết thúc bằng âm “ng” tạo ra sự ngân nga, vang vọng mãi của bài thơ. 

- So sánh với một bài thơ trung đại:


Thu hứng – Đỗ Phủ

Mùa xuân chín – Hàn Mạc Tử


Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm.

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột sọt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang. 

Ngắt nhịp

4/3 

4/3

Gieo vần

Gieo vần “âm” ở cuối các câu 1,2,4

Gieo vần “ang” cuối các câu 2,4 (vần “tan” trong câu 1 cũng có nét tương đồng với vần “vàng, sang” ở câu 2,4)

→ Nhận xét: Bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mạc Tử có cách ngắt nhịp và gieo vần chặt chẽ giống với thể thơ Đường luật. Điều này tạo nên chất cổ điển trong bài thơ. 

* Cách ngắt nhịp

- Bài thơ ngắt nhịp 4/3 (4 chữ đầu / 3 chữ cuối).

- Dấu chấm, dấu phẩy làm nhịp biến hóa:

+ Dấu chấm → tạo điểm dừng, nhấn nhá hình ảnh.

+ Dấu phẩy → kéo dài nhịp, mềm mại hơn.

- Nhịp 4/3 + dấu câu giúp bài thơ vừa trật tự vừa uyển chuyển.

* Cách gieo vần

- Vần tập trung ở cuối các câu trọng điểm: Ví dụ: vàng – sang, tan – chang.

- Âm “ng” cuối dòng tạo nhạc điệu ngân vang, vang vọng.

* Điểm ấn tượng

- Nhịp linh hoạt + dấu câu → tạo cảm giác dừng — chuyển — trôi nhẹ.

- Vần cuối câu → nhấn mạnh âm vang mùa xuân, dễ nhớ, êm tai.

* So sánh với thơ Đường luật

- Thơ Đỗ Phủ (Thu hứng): nhịp cố định, vần theo luật chặt (câu 2–4–6–8), ít dấu câu.

- Mùa xuân chín: nhịp 4/3, vần linh hoạt, dấu câu biến hóa → vừa chặt chẽ vừa tự do, mang âm hưởng cổ điển mà vẫn hiện đại.

Câu 5 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- Con người trong bài thơ hiện qua những hình ảnh: cô thôn nữ, tiếng ca vắt vẻo, ai ngồi dưới trúc, khách xa, chị ấy

- Hình ảnh gắn với nhân vật trữ tình là “khách xa”

- Đối tượng quan sát trong tâm tưởng của nhân vật trữ tình là làng quê và “chị ấy”. Đó có thể là một người ở làng quê xưa, cũng có thể là một cô bạn gái trước của “khách”. 

- Con người trong bài thơ: Cô thôn nữ hát trên đồi; Người “theo chồng bỏ cuộc chơi”; “Khách xa”; “Chị ấy” gánh thóc

- Hình ảnh gắn với nhân vật trữ tình:

+ “Khách xa” (chính là cái tôi trữ tình)

+ Nỗi nhớ “chị ấy”, nhớ làng → thuộc dòng hồi tưởng, cảm xúc

- Hình ảnh là đối tượng quan sát / trong tâm tưởng:

+ Quan sát trực tiếp: cô thôn nữ hát, cảnh sinh hoạt mùa xuân

+ Trong tâm tưởng: “chị ấy gánh thóc”, nỗi nhớ quê → không có trước mắt, chỉ hiện lên trong ký ức.

Câu 6 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- Những hình ảnh thiên nhiên rạo rực, tràn đầy sức sống, nhịp điệu bài thơ nhanh, uyển chuyển, cách gieo vần linh hoạt đã góp phần thể hiện khao khát giao hoà  với cuộc đời một cách mãnh liệt của nhà thơ, nỗi nhớ làng quê da diết, niềm trân trọng cái đẹp và nuối tiếc khi không thể giữ cái đẹp tồn tại vĩnh hằng. 

Hình ảnh, nhịp, vần hòa quyện với nhau, dẫn dắt mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, khiến người đọc vừa nhìn thấy cảnh xuân sống động, vừa cảm nhận nỗi bâng khuâng, nhớ nhung và trăn trở trong tâm hồn.

Câu 7 (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

- Qua bài thơ “Mùa xuân chín”, Hàn Mặc Tử đã bộc lộ một thế giới nội tâm mãnh kiệt với những cung bậc cảm xúc được đẩy đến tột cùng. Thông qua bức tranh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống, nhà thơ bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và tấm lòng khát khao giao cảm với cuộc đời. Nhân vật trữ tình ẩn mình trong vai trò là một vị “khách xa” bày tỏ nỗi nhớ làng, nhớ quê da diết và nỗi khắc khoải, lo âu, trăn trở trước những biến thiên của cuộc đời. 

- Nhân vật trữ tình hiện lên là người tinh tế, nhạy cảm với thiên nhiên và con người trong mùa xuân.

- Nhân vật vừa quan sát cảnh vật vừa hồi tưởng ký ức, mang tâm trạng bâng khuâng, nhớ nhung.

* Kết nối đọc – viết

Câu hỏi (trang 52 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1)

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm nhận về một câu thơ hoặc một hình ảnh trong bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử đã gợi cho bạn nhiều ấn tượng và cảm xúc.

Gợi ý

Với màu sắc cổ điển hài hoà với chất dân dã trẻ trung, bình dị, bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong sáng, rạo rực, say mê. Tác phẩm gây ấn tượng với bạn đọc bởi chính nhan đề “mùa xuân chín”. Với nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, Hàn Mặc Tử đã hữu hình hoá mùa xuân, khiến nó dường như có màu sắc và có cả hương sắc. Đây chính là kết hợp từ tài tình của tác giả. Nhà thơ đã dùng trạng thái “chín” của trái cây để nói về cái trọn vẹn, viên mãn, tươi đẹp nhất của mùa xuân. Qua đó, nhà thơ bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống da diết và khát khao giao cảm mãnh liệt. Bởi chính lúc “mùa xuân chín” nhất, đẹp nhất thì tác giả cũng nhận ra cái đẹp không thể tồn tại mãi. Nhà thơ bộc lộ niềm nuối tiếc khi không thể níu giữ vẻ đẹp vĩnh hằng, muốn giao hoà với vẻ đẹp của đất trời. 

Câu thơ “Trên giàn thiên lí, bóng xuân sang” gợi trong tôi một cảm giác vừa rộn ràng vừa man mác buồn. Hình ảnh “giàn thiên lí” chín mọng như báo hiệu sức sống tràn đầy của mùa xuân, nhưng từ “bóng xuân sang” lại khiến sắc xuân trở nên thoảng qua, nhẹ nhàng mà mong manh. Qua câu thơ, tôi cảm nhận được nhịp sống của thiên nhiên hòa cùng tâm trạng tinh tế, nhạy cảm của nhân vật trữ tình. Mùa xuân ở đây không chỉ là sự nở hoa, chín trái, mà còn là khoảnh khắc của cảm xúc, của những rung động tinh tế trong lòng người, vừa ngọt ngào vừa chua xót. Hình ảnh ấy khiến tôi thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng cũng đồng thời thấm thía nỗi cô đơn, trống trải của con người trước sự tuần hoàn không ngừng của thời gian.