Soạn bài Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) - Kết nối tri thức
Soạn bài Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) - Kết nối tri thức
Với soạn bài Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) trang 47, 48, 49 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.
Soạn bài Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) - Kết nối tri thức
*Trước khi đọc
Câu hỏi 1 (trang 47 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1):
Về hình thức, thể thơ Đường luật thường có kết cấu vô cùng chặt chẽ: về số câu trong một bài, số chữ trong một dòng, về cách gieo vần, niêm và đối giữa các vế câu với nhau. Người sáng tác luôn phải tuân theo những quy luật nhất định khi viết thơ Đường luật.
Về nội dung, thơ Đường luật thường đề cập đến những đề tài như tình yêu nước, vẻ đẹp thiên nhiên, tình cảm con người,....
Ấn tượng về đặc điểm hình thức và nội dung của những bài thơ Đường luật đã học:
- Về đặc điểm hình thức: những bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt hoặc thể thất ngôn bát cú Đường luật (đề - thực – luận – kết). Hai thể thơ đều có quy luật vô cùng nghiêm khắc về luật, niêm và vần (theo bằng trắc) và có bố cục rõ ràng.
- Về nội dung: Có bốn phần là: Đề, Thực, Luận và Kết.
Câu hỏi 2 (trang 47 SGK Ngữ Văn 10 Tập 1):
Tôi đã từng xa nhà trong một khoảng thời gian tham gia khoá học hè quân đội dành cho lứa tuổi học sinh. Đó là một chuyến đi rất bổ ích, khiến tôi trưởng thành lên rất nhiều. Tôi đã xa nhà trong khoảng một tuần, ngày đầu tiên tôi cảm thấy rất háo hức với khoá học hè. Tuy nhiên đến những ngày tiếp theo, tôi bắt đầu thấy nhớ nhà, nhớ gia đình. Sau khoá học, tôi cảm thấy yêu và trân trọng gia đình mình nhiều hơn.
Tôi đã từng giúp gia đình làm việc nhà như quét nhà, rửa bát, nấu cơm. Trải nghiệm đó giúp tôi hiểu hơn về sự vất vả của người thân, từ đó biết chia sẻ, có trách nhiệm hơn. Đồng thời, làm việc nhà cũng rèn cho tôi tính tự lập và ý thức chăm sóc bản thân.
*Trong khi đọc
1. Khung cảnh mùa thu được tái hiện trong bài thơ (màu sắc, không khí, trạng thái vận động của sự vật).
- Màu sắc: màu đỏ úa của rừng phong, trắng của sương
- Không khí: tiêu điều, hiu hắt, âm u
- Trạng thái vận động: sóng tung vọt trùm bầu trời, gió mây sà xuống mặt đất
- Màu sắc: trắng của sương/móc, xanh thẫm của bầu trời, sắc úa của lá phong → gam màu lạnh, nhạt, gợi tàn phai.
- Không khí: hiu hắt, vắng lặng, se lạnh, đượm buồn.
- Trạng thái vận động: rất nhẹ và chậm (lá rụng, sương rơi, thuyền buộc yên) → cảnh gần như tĩnh, nhấn mạnh sự cô quạnh.
2. Hãy nhận diện phép đối trong cả nguyên tác và dịch nghĩa trong các cặp câu thơ 3-4 và 5-6
|
Câu thơ |
Phiên âm |
Dịch nghĩa |
|
3 - 4 |
Ba lãng kiêm thiên dũng >< Phong vân tiếp địa âm |
Sóng tung vọt trùm bầu trời >< gió mây sà xuống khiến mặt đất âm u |
|
5 - 6 |
Tùng cúc lưỡng khai >< cô chu nhất hệ Tha nhật lệ >< cố viên tâm (B T T >< T B B) |
Khóm cúc nở hoa đã hai lần >< con thuyền lẽ loi thắt chặt (cái tĩnh >< cái động) Tuôn rơi nước mắt ngày trước – tấm lòng nhớ về vườn cũ (cái cụ thể >< cái trừu tượng) |
- Câu 3 – 4: “Lưng trời / Mặt đất”; “sóng rợn / mây đùn”; “lòng sông thẳm / cửa ải xa” → đối về không gian (cao–thấp, gần–xa), hình ảnh và nhịp điệu.
- Câu 5 – 6: “Khóm cúc / Con thuyền”; “tuôn thêm dòng lệ cũ / buộc chặt mối tình nhà” → đối về sự vật và ý nghĩa (cảnh–tình; nỗi buồn ly hương ↔ nỗi nhớ quê nhà).
3. Âm thanh của tiếng dao thước may áo, tiếng chày đập vải gợi ra không khí gì?
- Âm thanh của tiếng dao thước may áo, tiếng chày đập vải gợi ra không khí sinh hoạt hằng ngày của người dân, báo hiệu một mùa đông lạnh lẽo sắp đến. Mọi người đều đang vội vàng, gấp gáp may áo chuẩn bị chống rét, âm thanh diễn tả sự thổn thức, mong chờ được trở về quê của tác giả.
Tiếng dao thước may áo, tiếng chày đập vải gợi không khí sinh hoạt đời thường nơi biên tái vào thu: nhịp sống đều đều nhưng quạnh vắng, se lạnh, man mác buồn, làm nổi bật nỗi cô đơn và nhớ nhà của con người.
*Sau khi đọc
Nội dung chính:
Bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ thể hiện nỗi lòng riêng của nhà thơ, chan chứa tâm sự yêu nước, thương đời. Nghệ thuật thơ Đường ở đây đã đạt đến trình độ mẫu mực.
*Trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)
- Bố cục:
+ Đề (câu 1,2): Cảnh thu trên cao
+ Thực (câu 3,4): Cảnh thu dưới thấp
+ Luận (câu 5,6): Nỗi nhớ quê hương da diết
+ Kết 9 câu 7,8): Nỗi nhớ nhà, nhớ người thân
- Cách gieo vần:
+Bài thơ chỉ gieo một vần (là vần bằng) ở các câu 1-2-4-6-8. Cuối các câu 1-2-4-6-8 bài Thu hứng lần lượt là các vần bằng: lâm-sâm-âm-tâm-châm
- Luật bằng-trắc
|
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng Tái thượng phong vân tiếp địa âm Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ Cô chu nhất hệ cố viên tâm Hàn y xứ xứ thôi đao xích Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. |
T T B B B T B B B B T T B B B B B T B B T T T B B T T B B T T B B T B B B T T T B B B B T T B B T T T B B T T B |
- Về đối: đối thanh, đối ý ở câu thực và câu luận
|
Câu thơ |
Phiên âm |
Dịch nghĩa |
|
3 - 4 |
Ba lãng kiêm thiên dũng >< Phong vân tiếp địa âm |
Sóng tung vọt trùm bầu trời >< gió mây sà xuống khiến mặt đất âm u |
|
5 - 6 |
Tùng cúc lưỡng khai >< cô chu nhất hệ Tha nhật lệ >< cố viên tâm (B T T >< T B B) |
Khóm cúc nở hoa đã hai lần >< con thuyền lẽ loi thắt chặt (cái tĩnh >< cái động) Tuôn rơi nước mắt ngày trước – tấm lòng nhớ về vườn cũ (cái cụ thể >< cái trừu tượng) |
- Bố cục có thể chia thành 4 phần: đề - thực – luận – kết.
- Cách gieo vần: vần bằng ở câu 1-2-4-6-8: lâm - sâm – âm – tâm – châm.
- Luật bằng – trắc: tiếng thứ 2 thanh bằng thì tiếng thứ 4 thanh trắc, tiếng thứ 6 thanh bằng và dòng tiếp theo ngược lại:
Câu 1: T T B B T T B (v)
Câu 2: B B T T T B B (v)
Câu 3: B B T T B B T
Câu 4: T T B B T T B (v)
Câu 5: T T B B B T T
Câu 6: B B T T T B B (v)
Câu 7: B B T T B B T
Câu 8: T T B B T T B (v)
Ví dụ: Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
T B T
Câu 2 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1):
- Bản dịch của Nguyễn Công Trứ
+ Câu đầu tiên, tác giả chưa dịch sát nghĩa từ “điêu thương”- đây là tính từ nhưng lại đóng vai trò làm động từ trong câu thơ. Cần phải diễn đạt được sắc thái tàn phá khắc nghiệt của sương đối với rừng phong.
+ Câu 3: Chữ “thẳm” diễn đạt chưa trọn vẹn nghĩa, nó khiến âm hưởng bài thơ bị kéo xuống
+ Câu 5, khi dịch “Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ”, tác giả làm mất từ “lưỡng khai” quan trọng, từ này có ý nghĩa nhấn mạnh vào sự lặp lại
+ Câu 6: “con thuyền buộc chặt mối tình nhà”, tác giả không truyền tải được hết sự trống trải, cô đơn của kẻ li hương trong chữ “cô” phần phiên âm.
- Bản dịch của Khương Hữu Dụng
+Câu 2: “Vu sơn, Vu giáp khí thu dày”, tác giả dịch chưa sát với “khí tiêu sâm” – khí thu hiu hắt, gợi ra một không gian ảm đạm, trầm buồn
+ Câu 4: “Đầu ải mây sà mặt đất bay”, tác giả dịch chưa làm nổi bật được cái âm u nơi mặt đất
+ Câu 6: “Lòng quê buộc một chiếc thuyền đây”, tác giả dịch mất chữ “cố”, không nổi bật được nỗi nhớ quê xưa
+ câu 8: “Bạch Đế thành hôm rộn tiếng chày”, tác giả dịch mất khoảng thời gian buổi chiều, gợi khoảnh khắc lao động lúc ngày tàn.
- Bản dịch của Nguyễn Công Trứ:
+ C1: Chưa sát “điêu thương” → thiếu sắc thái tàn phá
+ C3: Từ “thẳm” → làm giảm âm hưởng
+ C5: Mất “lưỡng khai” → không nhấn mạnh sự lặp lại
+ C6: Thiếu chữ “cô” → chưa thể hiện rõ nỗi cô đơn
- Bản dịch của Khương Hữu Dụng:
+ C2: Chưa sát “khí tiêu sâm” → thiếu nét hiu hắt, ảm đạm
+ C4: Chưa làm rõ không khí âm u mặt đất
+ C6: Mất chữ “cố” → nhạt nỗi nhớ quê xưa
+ C8: Thiếu thời điểm chiều → mất sắc thái ngày tàn
Câu 3 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)
- Không khí cảnh thu trong 4 câu đầu:
+ Ngọc lộ: Miêu tả hạt sương móc trắng xóa, dầy đặc làm tiêu điều, hoang vu cả một rừng phong.
+ Phong thụ lâm: hình ảnh được dùng để miêu tả mùa thu
+ “Vu sơn Vu giáp”: tên những địa danh nổi tiếng ở vùng Quỳ Châu, Trung Quốc, vào mùa thu, khí trời âm u, mù mịt.
+ “Khí tiêu sâm”: hơi thu hiu hắt, ảm đạm
+ Hình ảnh đối lập, phóng đại: sóng – vọt lên tận trời (thấp – cao), mây – sa sầm xuống mặt đất (cao – thấp)
- Tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa thu vừa mang vẻ dữ dội, hùng tráng vừa xác xơ, tiêu điều. Từ đây, ta thấy được tâm trạng cô đơn, lo âu, bất an của nhà thơ trước thực tại xã hội còn tối tăm mịt mờ.
- Không khí cảnh thu (4 câu đầu):
+ “Ngọc lộ”: sương dày, lạnh → cảnh tiêu điều
+ “Phong thụ lâm”: dấu hiệu mùa thu
+ “Vu sơn, Vu giáp”: không gian âm u, mù mịt
+ “Khí tiêu sâm”: hơi thu hiu hắt, ảm đạm
+ Hình ảnh đối lập, phóng đại: Sóng vọt lên trời (thấp → cao); Mây sà xuống đất (cao → thấp)
- Ý nghĩa:
+ Bức tranh thu: vừa hùng tráng, dữ dội vừa hoang vắng, tàn tạ
+ Thể hiện tâm trạng: cô đơn, lo âu, bất an trước thực tại u tối
Câu 4 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)
- Các từ ngữ, hình ảnh gợi cảm xúc của nhân vật trữ tình: “tha nhật lệ”, “cô chu”, “cố viên tâm”
=> Nhân vật trữ tình trong trạng thái lẻ loi, cô độc, nhớ nhung quê nhà da diết.
Nhân vật trữ tình được thể hiện qua:
* Hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng:
- Hoa cúc: hình ảnh ước lệ chỉ mùa thu.
- Khóm cúc đã hai lần nở hoa: Có hai cách hiểu khóm cúc nở ra làm rơi giọt nước mắt, khóm cúc nở ra giọt nước mắt.
- “Cô phàm”: là phương tiện đưa tác giả trở về “cố viên”, đồng thời gợi thân phận lẻ loi, cô đơn, trôi nổi của tác giả.
* Cách sử dụng từ ngữ độc đáo, hàm súc, cô đọng:
- “Lưỡng khai”: Nỗi buồn lưu cữu trải dài từ quá khứ đến hiện tại.
- “Nhất hệ”: Dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc mối tình nhà của tác giả.
- “Cố viên tâm”: Tấm lòng hướng về quê cũ. Thân phận của kẻ tha hương, li hương luôn khiến lòng nhà thơ thắt lại vì nỗi nhớ quê.
Câu 5 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)
- Việc mô tả khung cảnh sinh hoạt của con người ở hai câu thơ kết đã khiến tác giả như nhớ lại cuộc sống lao động đầm ấm, yên vui với những âm thanh giản dị của sự sống. Tuy nhiên, nó lại khiến con người bừng tỉnh trước thực tại và càng gia tăng nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân da diết.
- Âm thanh chày đập vải lúc hoàng hôn → gợi nhịp sống con người
- Tạo chút sinh khí cho bức tranh thu
- Nhưng càng làm nổi bật nỗi nhớ nhà, nhớ quê da diết
→ Khắc sâu cảm xúc của nhân vật trữ tình
Câu 6 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)
- Thu Hứng được sáng tác khi Đỗ Phủ đang lưu lạc tại Quỳ Châu, sống những tháng ngay khốn khó, bệnh tật. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ là nỗi niềm thân phận của cá nhân nhà thơ mà còn là nỗi lòng của biết bao người dân Trung Hoa thời bấy giờ. Sống trong cảnh loạn lạc, nước mất nhà tan, xã hội chưa ngày nào được yên ổn, người dân luôn phải sống trong nỗi bất an, lo sợ, lẻ loi, trống vắng.
Thu hứng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt của cuộc đời Đỗ Phủ. Bài thơ được làm vào năm 766, khi ông đang đưa cả gia đình đi chạy loạn. Bài thơ thể hiện được hai yếu tố "cảm xúc" và "mùa thu ", vừa tả cảnh vừa chất chứa tâm trạng. Đó là một chiều thu cụ thể ở vùng đất Quý Châu trong giai đoạn suy vong của triều đình phong kiến đương thời. Chiến tranh xảy ra liên miên đã đầy Đỗ Phủ phiêu bạt về tận góc trời xa thẳm. Ngày đêm, ông chi còn ôm ấp một hi vọng mong manh là được trở về quê cũ. Đây không chỉ là ước mơ của Đỗ Phủ mà còn là ước mơ của bao người dân nghèo khổ lưu vong. Bởi vậy, bài thơ tuy không miêu tả trực tiếp tình hình xã hội nhưng vẫn có ý nghĩa hiện thực sâu sắc và chan chứa tình đời.
Câu 7 (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1)
Câu thơ nào trong bài cũng thể hiện cảm xúc về mùa thu, nỗi niềm tâm sự của tác giả trong mùa thu. Đúng vậy! Bởi bài thơ được sáng tác theo luật Đường, ngôn ngữ cô đọng, súc tích, ý tại ngôn ngoại. Một đặc trưng trong bút pháp của thơ Đường đó là tả cảnh ngụ tình. Vì vậy, trong thơ, cảnh và tình luôn hoà quyện vào nhau. Đỗ Phủ tả cảnh mùa thu xơ xác, tiêu điều hay chính lòng nhà thơ đang cảm thấy u uất, bất an, lo sợ. Cái vọt lên của sóng, cái sà xuống của mây phải chăng là tâm trạng muốn vùng thoát khỏi thực tại tù túng, tối tăm, mù mịt. Mỗi lời thơ tả cảnh của Đỗ Phủ đều thật chan chứa cảm xúc.
- Mỗi câu thơ đều thấm đượm cảm xúc mùa thu, tâm trạng tác giả
- Thơ Đường: ngôn ngữ cô đọng, ý tại ngôn ngoại, tả cảnh ngụ tình
- Cảnh thu tiêu điều → phản chiếu tâm trạng u uất, bất an
- Hình ảnh sóng vọt, mây sà → khát vọng thoát khỏi thực tại tối tăm
→ Cảnh và tình hòa quyện, giàu cảm xúc
*Kết nối đọc – viết
Câu hỏi (trang 49 SGK Ngữ văn 10 Tập 1):
Gợi ý
Những yếu tố làm nên đặc trưng và sức hấp dẫn của thơ Đường luật và thơ hai-cư có nhiều điểm gần gũi nhau. Tiêu biểu nhất đó là ở sự kiệm lời. Thơ hai-cư và thơ Đường luật đều là những thể loại trữ tình, lời ít ý nhiều. Nhà thơ chú ý tạo nên những khoảng trống giữa bề mặt ngôn ngữ và những lớp nghĩa ẩn sâu bên trong. Nhiệm vụ của bạn đọc là kết nối những mảnh ghép ngôn từ, khám phá những tư tưởng triết lý của nhà thơ thông qua những sáng tạo nghệ thuật. Nếu thơ hai-cư thường biểu hiện những rung cảm của con người trước thiên nhiên bằng những hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng mà đậm tính tượng trưng thì thơ Đường luật thường sử dụng những hình ảnh ước lệ tượng trưng. Cả hai thể loại đều nhằm đến mục đích tả ít, gợi nhiều, tả gián tiếp hơn là trực tiếp, nhờ đó mở ra không gian cho người đọc cảm nhận bài thơ.
Thơ Đường luật và thơ hai-cư tuy ra đời ở hai nền văn hóa khác nhau nhưng có nhiều điểm tương đồng tạo nên sức hấp dẫn riêng. Trước hết, cả hai đều đề cao tính hàm súc, cô đọng trong ngôn ngữ, “ít lời mà nhiều ý”, buộc người đọc phải suy ngẫm để khám phá tầng nghĩa ẩn sâu. Bên cạnh đó, cả hai thể loại đều sử dụng bút pháp gợi hơn tả, thường mượn cảnh thiên nhiên để biểu đạt tâm trạng con người, tạo nên sự hòa quyện giữa cảnh và tình. Ngoài ra, thơ Đường luật và hai-cư đều có tính quy phạm chặt chẽ về hình thức, từ số câu, số chữ đến nhịp điệu, góp phần tạo nên vẻ đẹp cân đối, hài hòa. Chính những yếu tố này đã làm nên chiều sâu và sức sống lâu bền cho hai thể thơ.