Soạn bài Củng cố, mở rộng trang 151 lớp 11 - Kết nối tri thức
Soạn bài Củng cố, mở rộng trang 151 lớp 11 - Kết nối tri thức
Với soạn bài Củng cố, mở rộng trang 151 Tập 1 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.
Soạn bài Củng cố, mở rộng trang 151 lớp 11 - Kết nối tri thức
Câu 1 (trang 151 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Tổng hợp những thông tin cơ bản về hai văn bản kịch đã học trong bài (Sống hay không sống – đó là vấn đề, Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài) theo gợi ý sau: tình huống, nhân vật, xung đột, thông điệp.
Trả lời:
|
|
Sống hay không sống – đó là vấn đề |
Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài |
|
Tình huống |
Hăm-lét được báo mộng về cái chết của cha, chàng quyết định giả điên để tìm ra sự thật và báo thù cho cha. |
Vua Lê Tương Dực lệnh Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài gây nên sự oán hận trong lòng dân. |
|
Nhân vật |
Hăm-lét, Clo-đi-út, Ô-phê-li-a, Pô-lô-ni-út,… |
Vũ Như Tô, Đan Thiềm, Nguyễn Hoàng,… |
|
Xung đột |
Xung đột về mặt nội tâm của nhân vật Hăm-lét, đó là sự mâu thuẫn giữa việc đấu tranh để bảo vệ chính mình trước hiện thực xấu xa hay cứ sống chịu đựng, sống với lý tưởng nhân văn. |
Nhân dân, những người thợ xây đài >< tầng lớp vua chúa phong kiến, Vũ Như Tô >< những người thợ phu phen bị bắt bớ, phu dịch để xây Cửu Trùng Đài. |
|
Thông điệp |
Hãy giữ bản thân luôn tỉnh táo, sáng suốt để đưa ra những quyết định đúng đắn. Dù trước hoàn cảnh nào đi chăng nữa, dù bị vùi dập, dẫm đạp; con người vẫn phải giữ lấy lý trí và niềm tin của mình. |
Thông điệp mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu và lợi ích của nhân dân. |
Tình huống:
- Ở đoạn trích về Hăm-lét, chàng được báo mộng về cái chết oan của cha nên quyết định giả điên để điều tra sự thật và tìm cách trả thù.
- Trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, vua Lê Tương Dực ra lệnh xây dựng Cửu Trùng Đài xa hoa, khiến nhân dân oán thán và dẫn đến biến loạn.
Nhân vật:
- Tác phẩm về Hăm-lét có các nhân vật chính như Hăm-lét, Claudius, Ô-phê-li-a, Pô-lô-ni-út,…
- Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài có các nhân vật tiêu biểu như Vũ Như Tô, Đan Thiềm, Nguyễn Hoàng,…
Xung đột:
- Ở Hăm-lét, xung đột chủ yếu là xung đột nội tâm, thể hiện sự giằng xé giữa hành động và do dự, giữa đấu tranh với cái ác hay cam chịu trước thực tại.
- Trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, xung đột diễn ra gay gắt giữa nhân dân và tầng lớp vua chúa phong kiến, đồng thời là xung đột giữa Vũ Như Tô với những người thợ bị bóc lột để xây đài.
Thông điệp:
- Tác phẩm về Hăm-lét gửi gắm thông điệp về việc con người cần giữ được sự tỉnh táo, bản lĩnh và niềm tin để đưa ra những lựa chọn đúng đắn trong hoàn cảnh khó khăn.
- Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, nhấn mạnh rằng lí tưởng nghệ thuật cần gắn bó hài hòa với lợi ích của nhân dân.
Câu 2 (trang 151 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Tìm đọc các vở bi kịch; chỉ ra tình huống, nhân vật, xung đột và thông điệp chính trong các tác phẩm mà bạn đã đọc.
Trả lời:
Vở bi kịch: Hồn Trương Ba da hàng thịt – Lưu Quang Vũ.
- Tình huống: Trương Ba là một người đôn hậu, chất phác nhưng khi chết Hồn Trương Ba lại phải trú ngụ trong xác anh hàng thịt, tạo nên cuộc đấu tranh gay gắt giữa phần hồn Trương Ba cao quý với những ham muốn bản năng của phần xác hàng thịt.
- Bi kịch:
+ Bi kịch tha hoá của nhân vật Trương Ba trong đoạn trích bắt đầu bằng lớp thứ nhất của cảnh 7, đó là màn đối thoại giữa Hồn Trương ba và Xác hàng thịt.
+ Bi kịch Hồn Trương Ba được đẩy lên tới đỉnh điểm, cao trào ở màn đối thoại giữa Hồn Trương Ba với những người thân. Đó là bi kịch bị từ chối.
+ Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba được kết thúc trong màn đối thoại với Đế Thích- Bi kịch “bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo”.
- Xung đột: Xung đột giữa hồn Trương Ba và xác ông hàng thịt.
- Thông điệp:
+ Được sống làm người là rất quý giá song được sống đúng là mình, sống trọn vẹn giá trị mà mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hoà giữa thể xác và tâm hồn.
+ Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ
- Tình huống: Trương Ba – một người làm vườn hiền lành – chết oan do sai sót của Nam Tào. Để sửa sai, ông được cho sống lại nhưng phải nhập vào thân xác của anh hàng thịt. Từ đó, Trương Ba rơi vào tình trạng sống trái tự nhiên, hồn và xác không thống nhất.
- Nhân vật: Nhân vật chính gồm Trương Ba, xác anh hàng thịt, Đế Thích và những người thân trong gia đình Trương Ba. Trong đó, Trương Ba là trung tâm của bi kịch, còn xác hàng thịt đại diện cho phần bản năng thô tục.
- Xung đột: Xung đột chủ yếu là xung đột nội tâm giữa phần hồn thanh cao của Trương Ba và phần xác phàm tục của anh hàng thịt. Bên cạnh đó, còn có xung đột giữa Trương Ba với những người xung quanh khi họ không còn chấp nhận con người “không còn là mình” của ông.
Thông điệp: Tác phẩm gửi gắm thông điệp sâu sắc: con người cần được sống là chính mình, sống thống nhất giữa tâm hồn và thể xác. Nếu sống giả tạo, lệch lạc, con người sẽ đánh mất nhân cách và rơi vào bi kịch. Đồng thời, tác phẩm cũng phê phán lối sống chạy theo vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần.
Câu 3 (trang 151 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Tìm hiểu thêm về các nhân vật, sự kiện lịch sử được nhắc tới trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Yếu tố lịch sử đã được Nguyễn Huy Tường sử dụng như thế nào và có vai trò gì trong tác phẩm?
Trả lời:
- Nhân vật lịch sử: Vũ Như Tô,Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản,…
- Sự kiện lịch sử dưới thời phong kiến khoảng 1516 – 1517: Tháng 4 năm 1516, quân khởi nghĩa Trần Cảo nhân khi kinh thành rối loạn bèn tiến đánh Thăng Long. Cùng lúc đó, Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở Bồ Đề, được tin Duy Sản giết vua, liền đem quân qua sông, đốt hết phố xá trong kinh thành. Hoằng Dụ còn cho bắt chém Vũ Như Tô rồi mang quân rút khỏi Thăng Long. Đài cũng bị đốt thành tro sau lần đó.
- Yếu tố lịch sử đã được Nguyễn Huy Tưởng đưa vào vở kịch một cách khéo léo, mặc dù viết về lịch sử, những vấn đề mà Nguyễn Huy Tưởng đặt ra trong các sáng tác của mình vẫn luôn luôn mới và làm thao thức người đương thời. Lấy đề tài lịch sử nhưng không nhằm mục đích làm sử mà qua đó, nhà văn xây dựng được bi kịch của một người nghệ sĩ giữa khát vọng và hiện thực xã hội.
* Nhân vật và sự kiện lịch sử trong đoạn trích
- Vũ Như Tô: Là một kiến trúc sư có thật trong lịch sử thời Lê sơ, nổi tiếng với tài xây dựng. Ông được vua giao xây dựng Cửu Trùng Đài nhưng công trình này gây nhiều oán hận trong nhân dân.
- Vua Lê Tương Dực: Là vị vua cuối thời Lê sơ, nổi tiếng ăn chơi xa xỉ, bắt dân xây dựng cung điện lớn, khiến đời sống nhân dân khổ cực.
- Trịnh Duy Sản: Là một tướng lĩnh đã lãnh đạo cuộc nổi dậy, giết vua Lê Tương Dực và chấm dứt triều đại suy tàn.
- Sự kiện lịch sử: Cuộc nổi dậy của Trịnh Duy Sản và việc phá hủy Cửu Trùng Đài là sự kiện có thật, phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa triều đình phong kiến và nhân dân.
* Cách Nguyễn Huy Tưởng sử dụng yếu tố lịch sử
- Tác giả dựa vào sự kiện và nhân vật có thật trong lịch sử làm nền tảng cho tác phẩm, tạo tính chân thực và sức thuyết phục.
- Tuy nhiên, ông không sao chép lịch sử một cách nguyên xi mà có sự hư cấu, sáng tạo, đặc biệt trong việc xây dựng tâm lí và bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô.
- Nhân vật Đan Thiềm là một sáng tạo nghệ thuật tiêu biểu, giúp làm nổi bật xung đột giữa cái đẹp và đời sống.
* Vai trò của yếu tố lịch sử trong tác phẩm
- Yếu tố lịch sử giúp tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội phong kiến suy tàn, nơi mâu thuẫn giữa vua chúa và nhân dân trở nên gay gắt.
- Đồng thời, nó tạo nền để tác giả đặt ra vấn đề lớn: mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa lí tưởng cái đẹp và lợi ích của con người.
- Nhờ yếu tố lịch sử, bi kịch của Vũ Như Tô không chỉ là câu chuyện cá nhân mà trở thành bi kịch mang ý nghĩa thời đại và nhân loại.
Câu 4 (trang 151 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Thu thập, phân tích và đánh giá các thông tin về một trong số các vấn đề gợi ý sau:
- Nghệ thuật thời Phục hưng;
- Kiến trúc thành Thăng Long;
- Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI – XVII.
Trả lời:
* Nghệ thuật thời Phục hưng
Phục Hưng là một phong trào văn hóa bao gồm giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Những thành tựu của phong trào văn hóa Phục Hưng đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh nhân loại. Thành tựu của phong trào văn hóa phục hưng Là một phong trào văn hóa, Phục Hưng bao hàm sự nở rộ các nền văn học tiếng Latinh cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển, sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo dục tiệm tiến nhưng phổ cập.
- Về hội họa và điêu khắc : điểm độc lạ của mỹ thuật thời Phục Hưng là tính hiện thực cao, những tác giả biểu lộ đậm chất ngầu và nội tâm khác hẳn thời kỳ trước . Đặc điểm chung của nghệ thuật hội họa thời kì này là tùy đề tài vẫn khai thác trong kinh thánh hoặc thần thoại, nhưng nội dung thì hoàn toàn hiện thực. Nhà danh họa khổng lồ người Ý của thời kỳ này là Lêôna đơ Vanhxi với các tác phẩm như Nàng Giôcôngđơ, Bữa tiệc cuối cùng, Đức mẹ đồng trinh trong hang đá. Từ thế kỷ XV, ông đã có ý tưởng thay mái chèo của thuyền bằng cánh quạt đẩy nước, vẽ ra nguyên tắc hoạt động của máy bay, dù thoát hiểm,… Bức tranh “Bữa tiệc cuối cùng”, dựa vào câu chuyện trong bữa tiệc chia tay nhau, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ của mình rằng: “Trong các ngươi sẽ có một kẻ phản bội ta”. Bức tranh đã thể hiện được nội tâm của các nhân vật dự tiệc khi nghe câu nói đó: người thì ngạc nhiên, người thì tức giận, người thì buồn bã, người thì biểu thị sự ngay thẳng trung thực của mình... Đây là một bức tranh rất hoàn hảo về mô tả nhân vật, bố cục và màu sắc. Raphaen (1483-1520) cũng là một họa sĩ thiên tài của Ý. Tuy ông chết tương đối sớm (37 tuổi) nhưng ông đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như Cô gái làm vườn xinh đẹp, các bức tranh vẽ về thánh mẫu... Ông là một họa sĩ có sở trường về vẽ chân dung, đặc biệt là thể hiện được một cách sống động vẻ đẹp tươi tắn của các cô gái, vẻ hiền hậu dịu dàng của người mẹ và nét ngây thơ đáng yêu của các em bé.
- Về phương diện kỹ thuật, các thành tựu của phong trào văn hóa Phục Hưng lịch sử 10 có thể kể đến như:
+ Phát minh in ấn, chế tạo ra giấy => bình dân hóa việc học, thúc đẩy văn hóa phát triển.
+ Xây dựng thành công lò gang nấu quặng, không chỉ nấu được gang mà luyện được thép.
+ Cải tiến bánh xe nước cùng nhiều phát minh mới thúc đẩy ngành công nghiệp.
+ Ngành giải phẫu có nhiều bước tiến mới đã đánh một đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa duy tâm.
Về khoa học tự nhiên, thành tựu của phong trào văn hóa Phục Hưng đem lại nhiều bước tiến vượt bậc với sự góp phần của nhiều nhà khoa học: Nhiều nhà khoa học đã dũng cảm chống lại những quan điểm sai lầm bảo thủ, góp phần thay đổi cách nhìn của con người thời bấy giờ về Trái Đất và vũ trụ như Cô-péc-ních, Bru-nô, Ga-li-lê.
* Kiến trúc thành Thăng Long
Sau khi ra chiếu dời đô, vua Lý Công Uẩn đã cho xây dựng thành quách, cung điện chùa chiền thành một kinh thành Thăng Long nguy nga tráng lệ để đóng đô.
Kinh thành Thăng Long gồm 3 vòng thành, mọi hoạt động của hoàng tộc qua các triều đều tại Cấm Thành, phía bên ngoài là cung điện, phủ đệ, cụm kiến trúc giáo dục tín ngưỡng,…
Trong liên lục 8 thế kỷ Thăng Long tồn tại với một toà thành hoa lệ, bề thế. Vào thời Lý Hoàng Thành dựa trên vị trí của thành Đại La. Trải qua các triều đại nhà Trần, hậu lê, toà thành vẫn ở trên vị trí này, có chỉnh trang lại.
Vào thời nhà Nguyễn, kinh đô dời vào Phú Xuân (Huế), Hà Nội trở thành Tổng Trấn Bắc. Quy mô của thành Hà nội vào thời kỳ này nhỏ hơn các thời kỳ trước đó.
Thành cổ Hà nội xưa có 3 vòng (tam trùng thành quách). Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm Thành, là nơi chỉ dành cho nhà vua, hoàng hậu cùng số ít cung tần mỹ nữ trú ngụ. Qua các triều đại kinh thành Thăng Long có nhiều tên gọi khác nhau, thời lý gọi là Cung Thành, thời Trần gọi là long Phượng Thành, thời Hậu lê gọi là Cấm Thành.
Một cửa duy nhất nối liền giữa Cấm Thành và Hoàng Thành là Đoan môn. Hoàng Thành là vòng thành thứ 2 ở giữa Cấm Thành với thành ngoài. Trong Hoàng Thành là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan trong triều, giữa Hoàng Thành với Kinh Thành Thăng Long có khá nhiều cửa, nay chỉ còn lại một cửa là bắc Môn, hiện thuộc địa phận phố Phan Đình Phùng.
Vòng ngoài cùng gọi là Kinh Thành, đắp bằng đất. Đây là chỗ dân cư sinh sống. Kinh Thành có nhiều cửa trổ ra bên ngoài. Vào thời Lê, Kinh Thành Thăng Long có tất cả 16 cửa ô. Vào thời Nguyễn còn 12 cửa ô. Đầu thế kỷ 20 chỉ còn 5 cửa ô là Ô Dừa, Ô Đống Mác, Ô Cầu Dền, Ô Cầu Giấy và ô Quan Chưởng.
Ngày nay, riêng Ô Quan Chưởng, tên cũ là Đông Hà môn có nghĩa là cửa dành cho thuyền ra vào bến sông, còn được tồn tại. Cửa Ô Quan Chưởng gồm một cửa chính và hai cửa phụ. Trên có vọng lâu, bên tường phía trái có một tấm bia khắc năm 1882 ghi lệnh của tổng đốc Hoàng Diệu, cấm binh lính sách nhiễu dân chúng qua lại. Bốn cửa ô khác chỉ còn trong trí nhớ mơ màng của người dân đất Hà Thành mỗi khi hoài niệm về thuở xa xôi. Một số đoạn thành đất của Kinh Thành xưa còn để lại dấu vết như là đường Đại La, Hoàng Hoa Thám và La Thành.
1. Nghệ thuật thời Phục Hưng
Phong trào Phục Hưng diễn ra từ thế kỉ XV đến XVII, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử văn minh nhân loại. Đây là thời kì văn hóa phát triển rực rỡ, với sự phục hồi các giá trị cổ điển, sự phát triển của văn học, mỹ thuật và khoa học. Nghệ thuật thời kì này hướng tới việc phản ánh hiện thực đời sống một cách chân thực hơn, đồng thời đề cao con người và cá tính sáng tạo.
Trong lĩnh vực hội họa và điêu khắc, nghệ thuật Phục Hưng nổi bật với tính hiện thực cao và khả năng thể hiện nội tâm nhân vật. Dù đề tài thường lấy từ Kinh Thánh hoặc thần thoại, nhưng nội dung lại mang hơi thở đời sống thực tế. Tiêu biểu là danh họa Lêôna đơ Vanhxi với các tác phẩm nổi tiếng như Nàng Giôcôngđơ hay Bữa tiệc cuối cùng, thể hiện tinh tế trạng thái cảm xúc của nhân vật. Bên cạnh đó, họa sĩ Raphaen cũng để lại nhiều tác phẩm đặc sắc, nổi bật với khả năng khắc họa vẻ đẹp con người một cách sống động và hài hòa.
Về mặt khoa học – kĩ thuật, thời kì này cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Việc phát minh ra kĩ thuật in ấn đã góp phần phổ biến tri thức rộng rãi. Các tiến bộ trong luyện kim, cơ khí và giải phẫu học đã thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và khoa học. Nhiều nhà khoa học như Cô-péc-ních, Bru-nô và Ga-li-lê đã góp phần thay đổi nhận thức của con người về vũ trụ, phá vỡ những quan niệm lạc hậu trước đó.
2. Kiến trúc thành Thăng Long
Sau khi ban chiếu dời đô, vua Lý Công Uẩn đã cho xây dựng kinh thành Thăng Long với quy mô lớn, bao gồm thành quách, cung điện và chùa chiền, tạo nên một trung tâm chính trị – văn hóa quan trọng. Kinh thành được cấu trúc theo ba vòng thành: Cấm Thành, Hoàng Thành và Kinh Thành, mỗi khu vực có chức năng riêng biệt.
Cấm Thành là khu vực trong cùng, nơi ở của vua và hoàng tộc. Hoàng Thành là nơi làm việc của triều đình, còn Kinh Thành là nơi sinh sống của dân cư. Qua nhiều triều đại như Lý, Trần, Lê, cấu trúc thành có sự điều chỉnh nhưng vẫn giữ vị trí trung tâm. Đến thời Nguyễn, khi kinh đô chuyển vào Huế, vai trò của Thăng Long giảm dần và quy mô thành cũng thu hẹp lại.
Trải qua thời gian, nhiều công trình đã bị phá hủy, chỉ còn lại một số dấu tích như Ô Quan Chưởng – cửa ô duy nhất còn tồn tại đến ngày nay. Những dấu vết này góp phần gợi nhớ về một kinh thành Thăng Long từng nguy nga, tráng lệ trong lịch sử dân tộc.
3. Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI – XVII
Thế kỉ XVI – XVII là một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Việt Nam, đánh dấu sự suy yếu của nhà Lê và tình trạng chia cắt đất nước kéo dài. Sau thời kì hưng thịnh, triều Lê sơ dần suy thoái, quyền lực rơi vào tay các thế lực phong kiến, dẫn đến sự hình thành các tập đoàn phong kiến đối địch. Từ đó, đất nước bước vào thời kì phân tranh với nhiều cuộc xung đột liên miên.
Nổi bật trong giai đoạn này là cuộc xung đột giữa nhà Mạc và nhà Lê. Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập ra nhà Mạc, khiến triều Lê bị lật đổ. Tuy nhiên, các lực lượng trung thành với nhà Lê đã nổi dậy chống lại, tạo nên cục diện Nam – Bắc triều kéo dài trong nhiều năm. Cuộc chiến này không chỉ làm suy yếu đất nước mà còn gây ra nhiều đau khổ cho nhân dân.
Sau khi nhà Mạc suy yếu, đất nước lại tiếp tục rơi vào tình trạng chia cắt với cuộc phân tranh giữa hai thế lực lớn là họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Cuộc chiến Trịnh – Nguyễn kéo dài hàng chục năm đã khiến đất nước bị chia đôi, lấy sông Gianh làm ranh giới. Sự chia cắt này không chỉ ảnh hưởng đến chính trị mà còn tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế và xã hội.
Mặc dù phải trải qua nhiều biến động, giai đoạn này cũng chứng kiến những bước phát triển nhất định về kinh tế và văn hóa. Nông nghiệp tiếp tục được duy trì, trong khi thủ công nghiệp và thương mại có dấu hiệu phát triển, đặc biệt là hoạt động buôn bán với nước ngoài. Văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn và phát huy, góp phần duy trì bản sắc trong bối cảnh đất nước chia cắt.
Tóm lại, lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI – XVII là thời kì đầy biến động với nhiều cuộc xung đột và chia cắt, nhưng cũng là giai đoạn chuẩn bị những điều kiện cho sự phát triển về sau. Những bài học từ thời kì này cho thấy tầm quan trọng của sự ổn định chính trị và đoàn kết dân tộc đối với sự phát triển của đất nước.
Câu 5 (trang 151 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Xác định một đề tài nghiên cứu, xây dựng đề cương cho đề tài đó (dựa trên các thông tin đã tìm được) và trình bày đề cương nghiên cứu của bạn.
Trả lời:
Đề tài nghiên cứu: Nghệ thuật thời Phục hưng
1. Đặt vấn đề
Nghệ thuật phục hưng đó là một phong cách nghệ thuật bao gồm hội họa, điêu khắc và kiến trúc xuất hiện ở châu Âu vào khoảng năm 1400; cụ thể là ở Ý. Nghệ thuật là một trong những số mũ chính của Phục hưng Châu Âu. Trong giai đoạn này, ông bắt đầu nhận ra những nghệ sĩ vẫn còn nổi tiếng, như Boticelli, Giotto và van der Weyden.
2. Giải quyết vấn đề
Sự cải tiến của hội họa
Trong thế kỷ mười lăm, một số họa sĩ nổi tiếng người Hà Lan đã phát triển những cải tiến cho cách tạo ra tranh sơn dầu. Trong thời kỳ Phục hưng, các nghệ sĩ Ý đã sử dụng các kỹ thuật mới của Hà Lan để cải thiện các bức tranh của họ.
Hiện tượng này có ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian của các tác phẩm nghệ thuật, ngoài ra đã mang lại những thay đổi đáng kể cho bức tranh trên toàn thế giới.
Ngoài ra, thời Phục hưng phần lớn là do sự hiện diện của các nhân vật người Ý xuất sắc. Nhiều người trong số này được coi là giỏi nhất mọi thời đại về tầm ảnh hưởng, như Piero della Francesca và Donatello.
Sự hiện diện của những nghệ sĩ này làm cho chất lượng nghệ thuật nói chung được cải thiện đáng kinh ngạc, bởi vì ngay cả các họa sĩ ít nổi tiếng cũng được truyền cảm hứng từ sự xuất hiện của các kỹ thuật mới để cải thiện sáng tạo của riêng họ.
Sự tái hiện của các văn bản cổ điển
Một trong những ảnh hưởng chính của văn học Phục hưng là sự xuất hiện lại của các văn bản thời trung cổ đã bị mất trong Thời đại đen tối của nhân loại.
Những người văn học nghiên cứu các văn bản này đã sử dụng ảnh hưởng của họ để cải thiện các tác phẩm của họ và mang lại một liên lạc cũ cho phong trào, mà vào thời đó là đương đại.
Kiến trúc
Ý tưởng của các kiến trúc sư thời Phục hưng đã đi ngược lại với ý tưởng của người Gothic về việc tạo ra các cấu trúc với mức độ phức tạp cao trong thiết kế và chiều cao tuyệt vời của họ. Thay vào đó, họ bám vào các ý tưởng cổ điển về việc tạo ra các cấu trúc sạch sẽ đơn giản nhất có thể. Điều này dẫn đến việc tạo ra kiến trúc tròn.
Điêu khắc
Giống như hội họa, điêu khắc thời Phục hưng thường được định nghĩa bởi các đặc điểm giống như các tác phẩm điêu khắc trước thời Trung cổ… Các tính năng của mỗi người được truyền cảm hứng rõ ràng từ điêu khắc cổ điển và mục đích là tìm ra một mức độ chân thực cao hơn trong mỗi tác phẩm thông qua một chạm khắc theo tỷ lệ giải phẫu.
3. Kết luận
Các tác phẩm của thời Phục hưng tập trung vào niềm tin nhân văn rằng những hành động đúng đắn là chìa khóa của hạnh phúc, những ảnh hưởng tôn giáo mà khái niệm này có thể bị bỏ qua một bên…
Tài liệu tham khảo
1. Phục hưng, bách khoa toàn thư về thế giới hiện đại buổi đầu, 2004. Lấy từ bách khoa toàn thư.com
2. Nghệ thuật Phục hưng Ý & Nghệ sĩ Phục hưng, Trang web Nghệ thuật Phục hưng, (n.d.). Lấy từ renaissanceart.org
3. Nghệ thuật và kiến trúc Phục hưng, Nghệ thuật Oxford, (n.d.). Lấy từ oxfordartonline.com
4. Phục hưng, điêu khắc phương Tây; Bách khoa toàn thư Britannica, (n.d.). Lấy từ brittanica.com
5. Điêu khắc Phục hưng, Nhân văn thiết yếu, 2013. Lấy từ Essential-humanities.net
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Đề tài: Kiến trúc thành Thăng Long
1. Mở đầu
- Thành Thăng Long là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam trong nhiều thế kỉ, gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc.
- Kiến trúc của thành thể hiện trình độ xây dựng, tư duy quy hoạch và đời sống xã hội qua các triều đại.
- Việc nghiên cứu kiến trúc thành Thăng Long giúp hiểu rõ hơn về giá trị lịch sử – văn hóa và ý nghĩa của việc bảo tồn di sản.
- Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu đặc điểm kiến trúc, quá trình phát triển và vai trò của thành Thăng Long trong lịch sử.
2. Nội dung
- Thành Thăng Long được xây dựng từ thời Lý, phát triển qua các triều Trần, Lê và có sự thay đổi vào thời Nguyễn, phản ánh những biến động lịch sử của đất nước.
- Kiến trúc thành được tổ chức theo mô hình ba vòng: Cấm Thành, Hoàng Thành và Kinh Thành, thể hiện sự phân cấp rõ ràng trong xã hội phong kiến.
- Cấm Thành là khu vực trung tâm, nơi ở và sinh hoạt của vua và hoàng tộc; Hoàng Thành là nơi làm việc của triều đình; còn Kinh Thành là nơi sinh sống của dân cư.
- Qua các triều đại, cấu trúc thành có sự điều chỉnh nhưng vẫn giữ vai trò là trung tâm quyền lực và văn hóa của quốc gia.
- Kiến trúc thành Thăng Long không chỉ có giá trị về mặt quân sự và chính trị mà còn phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt thời kì trung đại.
- Ngày nay, dù nhiều công trình không còn nguyên vẹn, nhưng những di tích còn lại vẫn có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử và giáo dục truyền thống.
3. Kết luận
- Kiến trúc thành Thăng Long là một minh chứng tiêu biểu cho trình độ xây dựng và tư duy tổ chức xã hội của người Việt trong lịch sử.
- Công trình không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà còn mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc, góp phần khẳng định bản sắc dân tộc.
- Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích thành Thăng Long là cần thiết để gìn giữ di sản cho các thế hệ mai sau.