Soạn bài (Nói và nghe trang 45) Thuyết trình về nghệ thuật kể chuyện trong một tác phẩm truyện - Kết nối tri thức

3,678 từ~19 phút đọc

Soạn bài (Nói và nghe trang 45) Thuyết trình về nghệ thuật kể chuyện trong một tác phẩm truyện - Kết nối tri thức

Với soạn bài Nói và nghe: Thuyết trình về nghệ thuật kể chuyện trong một tác phẩm truyện trang 45, 46, 47 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.

Soạn bài (Nói và nghe trang 45) Thuyết trình về nghệ thuật kể chuyện trong một tác phẩm truyện - Kết nối tri thức

* Yêu cầu

- Giới thiệu những thông tin cơ bản về tác phẩm truyện được chọn để thuyết trình.

- Nêu được các khía cạnh trong nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm truyện.

- Trình bày được những phát hiện cá nhân về giá trị của tác phẩm, thu hút sự quan tâm của người nghe về tác phẩm được chọn để thuyết trình.

- Thể hiện được sự tôn trọng những cách cảm nhận, đánh giá đa dạng về một tác phẩm truyện.

1. Chuẩn bị nói

Lựa chọn đề tài

Đề tài của bài nói có thể được khai thác từ đề tài của bài viết ở trên.

Tìm ý và sắp xếp ý

Từ hệ thống luận điểm ở bài viết, lựa chọn những ý quan trọng nhất, thể hiện rõ quan điểm và phát hiện của bản thân cần được trình bày trong bài nói. Ví dụ, từ bài viết tham khảo về nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa, có thể triển khai bài thuyết trình theo bố cục:

- Tại sao cần quan tâm đến nghệ thuật tự sự ở truyện ngắn này?

- Vấn đề câu chuyện và truyện kể.

- Vấn đề người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật.

- Đặc điểm lời trần thuật.

- Ý nghĩa của nghệ thuật tự sự ở tác phẩm này.

2. Thực hành nói

Bài nói gồm đủ ba phần, tập trung vào các nội dung sau:

Mở đầu

Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện sẽ thuyết trình. Cân lưu ý bắt đầu bài nói sao cho thu hút sự chú ý của người nghe, tránh việc thuyết trình giống như việc đọc lại bài viết.

Triển khai

Trình bày lần lượt các thông tin trong bài viết theo hình thức tóm lược kết hợp nhịp nhàng với việc trình chiếu hay minh họa trực quan (nếu có). Người nói có thể kể lại ngắn gọn nhưng không hoàn toàn tiết lộ nội dung của truyện, nếu tác phẩm ấy chưa được nhiều người biết đến. Dựa vào các luận điểm đã xác định trong bố cục bài nói, thiết kế các slide sao cho thích hợp nếu người nói sử dụng phương tiện trình chiếu.

Kết luận

Khái quát lại những điều cảm nhận cũng như đánh giá về tính nghệ thuật của tác phẩm mà mình chọn để giới thiệu. Có thể kết bài bằng những câu khuyến khích người nghe chia sẻ cảm nhận hay góc nhìn khác về tác phẩm.

* Bài nói mẫu tham khảo:

Kính chào thầy cô và các bạn. Tôi tên là............học sinh.........trường.........

Để một tác phẩm văn học trở nên thành công thì cần có rất nhiều yếu tố tác động vào như nội dung, nghệ thuật, cùng các giá trị nhân văn mà nó mang lại. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là cách xây dựng tình huống truyện. Một truyện ngắn muốn hay, cuốn hút người đọc thì phải có được một cốt truyện hấp dẫn. Một trong số ít nhà văn được mệnh danh là bậc thầy trong xây dựng cốt truyện đó chính là Kim Lân. Các tác phẩm của ông đều có những nét riêng biệt, đặc sắc, nội bật trong số đó chính là tác phẩm “Vợ nhặt”. Truyện ngắn phản ánh sự thật về nạn đói những năm 1945 và cuộc sống nghèo khổ của nhân dân thời bấy giờ.

Truyện ngắn nói về nhân vật Tràng, một người dân ngụ cư nghèo khổ sống cùng mẹ. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả Tràng như một sản phẩm vội vàng của tạo hóa “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch". Quả thực Tràng là một thanh niên rất xấu xí, chả ai thèm ngó ngàng. Chẳng những vậy, cái nghèo, cái đói luôn đeo bám, quẩn quanh hai mẹ con Tràng. Kim Lân đã dùng những từ ngữ chân thật để miêu tả cuộc sống và ngôi nhà mà Tràng đang ở “những búi cỏ dại lổn nhổn”, “đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà”, “hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi”…. Cuộc sống túng thiếu của hai mẹ con hiện lên thật giản dị, tội nghiệp, khiến người khác không khỏi cảm thấy xót thương cho hai số phận. Nhưng điều làm cho Tràng cảm thấy tủi nhục nhất đó chính là mang trong mình cái danh dân ngụ cư, bị dân làng khinh miệt, coi thường.

Tuy nghèo đói nhưng chàng vẫn có một công việc để làm, để trông mong, đó chính là phu xe, hàng ngày bốc vác, chở gạo ra các chợ. Công việc thì vất vả, đói khát nhưng quả thật anh ta lúc nào cũng có thể vui vẻ, lạc quan. Giữa trời trưa nắng gắt, phải kéo cả một xe gạo đầy nặng trĩu, nhưng chàng ta vẫn có sức cất lên những câu hò:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”

Những câu hò này không hẳn là có ý trêu ghẹo những cô gái ngồi bên đường, mà chủ yếu để giúp chàng ta quên đi những mệt mỏi, đói khát mà mình đang phải chịu. Ấy vậy mà chỉ bằng vài ba lời hát vu vơ mà khiến Tràng được một người con gái để ý và đi theo đẩy giúp. Tràng là ngưởi hiểu rõ hơn ai hết những gì mà mình hát ở trên không phải là sự thật, làm gì mà có gạo trắng mà ăn chứ nói gì đến giò chả. Để rồi đến khi gặp người con gái ấy lần thứ hai, Tràng đã rất đỗi ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoại hình của Thị “Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt”.

Quả thực Thị đã gầy đi rất nhiều, có lẽ vì đói, vì khát mà cơ thể con người Thị đã bị tàn phá nhanh đến như vậy. Thị chạy đến sưng sỉa trước mặt Tràng “Điêu! người thế mà điêu”, mới đầu hắn ta chẳng hiểu gì nhưng rồi một lúc cũng ngộ ra rồi mời Thị đi ăn “thích ăn gì thì ăn”. Thị ta chẳng ngại ngùng gì mà cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, quả thực lúc này thị ta nhìn rất trơ trẽn. Người ngoài nhìn vào có người sẽ khinh bỉ, cho rằng thị ta đang vứt hết cả lòng tự trọng đi để ăn, nhưng cũng sẽ có những người xót thương, đồng cảm cho một con người đang phải chịu cơn đói hành hạ. Khi ấy, con người ta chẳng còn bận tâm đến danh dự, hay nhân phẩm gì nữa, ăn no mới là điều quan trọng trước hết. Đợi đến khi Thị ăn xong, Tràng có nói câu nửa vui nửa đùa rằng “về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về”. Tưởng Thị sẽ cười chê mình, nào ngờ Thị về thật, về làm dâu nhà Tràng. Một đám cưới diễn ra.

Việc một con trai lớn lên, xây nhà, cưới vợ là việc quá đỗi bình thường, nhưng nhân vật Tràng lại là một thanh niên xấu xí, nghèo đói, gia cảnh khó khăn, đặc biệt là dân ngụ cư nữa nên việc Tràng có được vợ làm rất nhiều người ngạc nhiên. Qua đây, ta đã thấy được nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân: vợ đáng lẽ ra là người ta yêu, qua tìm hiểu, đính ước mà đến với nhau, nhưng ở đây, Tràng ta lại “nhặt” được vợ theo đúng nghĩa đen và của hồi môn chắc có lẽ chỉ là vài bát bánh đúc mà thị ta vừa ăn lúc trước.

Việc Tràng có vợ khiến rất nhiều người ngạc nhiên, cụ Tứ – mẹ Tràng cùng tất cả những người thôn ngụ cư, người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc", người lại lo dùm cho anh ta "Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về". Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người đời cười chê, chế nhạo thế nhưng chẳng làm hai vợ chồng Tràng cảm thấy tủi nhục, xấu hổ. Cho đến khi dẫn Thị về nhà, cả cụ Tứ lẫn Tràng đều không tin nhà mình có con dâu.

Cụ Tứ vừa vui vừa buồn, vừa cảm thấy thương xót cho con trai mình. Bà vui vì con trai mình đến tuổi trưởng thành đã cưới được vợ, bà mừng cho hai đứa chúng nó, nhưng bà cũng buồn, buồn vì gia đình nhà mình quá nghèo. Đám cưới gì mà chẳng có cờ có hoa, không một mâm cỗ, không kèn trống, không người đưa đón, chỉ đơn giản là đưa dẫn nhau về ở chung, cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình. Bước vào căn nhà lụp xụp mà hai mẹ con Tràng đang ở mà Thị chỉ biết thở dài, bắt tay vào công việc dọn dẹp. Đến bữa ăn về nhà chồng cũng chỉ là nồi cháo loãng với chút muối trắng, cuộc sống của ba con người quả thực rất nghèo khổ.

Qua câu chuyện, nhà văn đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khổ bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình. Ông xót thương cho dân tộc trước thảm họa đói chết. Ông cũng ái ngại cho người con gái bị nạn đói cướp đi gần hết (gia đình, nhan sắc, tính cách, tên tuổi…).

Không những vậy, nhà văn còn rất tinh tế khi phát hiện ra khát vọng hạnh phúc và niềm vui khi nhặt vợ của Tràng; cái duyên thầm của thị qua cái liếc mắt với Tràng…Có thể nói, nhà văn rất trân trọng và tự hào về vẻ đẹp nhân tính của con người lao động nghèo trước thảm họa đau thương, chết chóc.

Đồng thời nhà văn còn tập trung ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động qua hình ảnh của bà cụ Tứ: một người mẹ giàu tình thương con, giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống và đây cũng chính là niềm tin của nhà văn vào phẩm chất tốt đẹp của con người.

Thông qua tình huống truyện, nhà văn lên án và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thảm họa đói nghèo, chết chóc. Chính chúng đã làm cho giá trị con người trở thành rẻ rúng như rơm như rác: vợ mà nhặt được.

Đúng là một tình huống truyện rất lạ mà Kim Lân đã dựng nên. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ muốn nói lên nét đẹp trong tính cách con người Việt Nam là dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào, lúc nào cũng có thể đối mặt với cái chết nhưng họ vẫn yêu thương, quan tâm nhau mà ông còn muốn lên án chế độ thực dân độc ác đã khiến nhân dân ta trở nên nghèo đói, lầm than.

Trên đây là bài trình bày của tôi về việc phân tích nghệ thuật kể chuyện trong một tác phẩm truyện, cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe. Rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy/cô và các bạn.

Kính thưa thầy/cô và các bạn,

Hôm nay, em xin trình bày về một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu tác phẩm văn học, đó là nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn. Cụ thể, em sẽ dựa vào truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao để làm rõ các phương diện tiêu biểu của nghệ thuật này.

Trước hết, chúng ta cần quan tâm đến nghệ thuật tự sự bởi đây là yếu tố quyết định cách nhà văn kể chuyện và truyền tải tư tưởng. Không chỉ nội dung, mà chính cách kể cũng góp phần tạo nên giá trị và sức hấp dẫn của tác phẩm.

Về vấn đề câu chuyện và truyện kể, cần phân biệt giữa nội dung sự việc được kể và cách nhà văn tổ chức, sắp xếp các sự kiện đó. Nam Cao không kể chuyện theo trình tự đơn giản mà có sự đan xen, lựa chọn chi tiết nhằm làm nổi bật bi kịch và tâm trạng của nhân vật.

Tiếp theo là vấn đề người kể chuyện và điểm nhìn. Người kể chuyện trong truyện ngắn của Nam Cao thường ở ngôi thứ ba nhưng có khả năng đi sâu vào nội tâm nhân vật. Điểm nhìn trần thuật linh hoạt, khi thì từ bên ngoài, khi thì nhập vào ý thức nhân vật, giúp câu chuyện trở nên đa chiều và giàu chiều sâu tâm lí.

Bên cạnh đó, lời trần thuật cũng là một yếu tố quan trọng. Nam Cao sử dụng lời văn giản dị nhưng sắc sảo, kết hợp giữa kể, tả, phân tích và bình luận. Giọng điệu có sự biến đổi linh hoạt, lúc mỉa mai, châm biếm, lúc lại trầm lắng, xót xa, thể hiện rõ thái độ của nhà văn đối với nhân vật và xã hội.

Cuối cùng, nghệ thuật tự sự góp phần làm nổi bật ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm. Qua cách kể chuyện độc đáo, Nam Cao đã thể hiện sâu sắc bi kịch của con người trong xã hội cũ, đồng thời bộc lộ tấm lòng nhân đạo và sự trăn trở về số phận con người.

Trên đây là phần trình bày của em. Em xin cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe!

Xin chào thầy/ cô và các bạn!

Hôm nay, em xin trình bày bài thuyết trình với đề tài: “Nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao”. Đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Không chỉ thành công ở giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, truyện còn hấp dẫn người đọc bởi nghệ thuật kể chuyện rất đặc sắc của Nam Cao.

Khi nhắc đến Chí Phèo, nhiều người thường nhớ ngay đến hình ảnh một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ, say rượu và chửi bới cả làng Vũ Đại. Nhưng điều làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm không chỉ là nhân vật Chí Phèo mà còn là cách Nam Cao kể câu chuyện về cuộc đời nhân vật ấy – vừa chân thực, vừa giàu chiều sâu tâm lí.

Trước hết, em xin giới thiệu khái quát về tác phẩm. Chí Phèo được sáng tác năm 1941, kể về cuộc đời bi thảm của Chí Phèo – một người nông dân lương thiện bị xã hội thực dân phong kiến đẩy vào con đường tha hóa, trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Qua đó, Nam Cao tố cáo xã hội tàn bạo đã cướp đi quyền sống, quyền làm người của người nông dân nghèo.

Điểm đặc sắc đầu tiên trong nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm là cách mở đầu truyện rất độc đáo. Nam Cao không kể theo trình tự từ tuổi thơ hay lai lịch nhân vật mà mở đầu bằng cảnh Chí Phèo vừa đi vừa chửi. Tiếng chửi ấy lập tức gây tò mò và tạo ấn tượng mạnh với người đọc. Từ hiện tại, nhà văn mới quay ngược về quá khứ để kể lại cuộc đời Chí Phèo. Cách kể này giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn và thể hiện rõ bi kịch cô độc của nhân vật ngay từ đầu tác phẩm.

Bên cạnh đó, Nam Cao xây dựng cốt truyện theo kiểu đan xen giữa hiện tại và hồi tưởng. Từ một Chí Phèo say rượu ở hiện tại, người đọc dần biết được hắn từng là anh canh điền hiền lành, từng có ước mơ giản dị về một mái ấm gia đình. Nhờ cách kể linh hoạt ấy, nhân vật hiện lên không đơn giản là một kẻ lưu manh mà là một con người có quá khứ, có nỗi đau và có khát vọng được sống lương thiện.

Một nét nổi bật khác là nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế. Nam Cao đặc biệt thành công khi diễn tả quá trình thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở. Sau bao năm sống trong men rượu và sự tha hóa, lần đầu tiên Chí cảm nhận được vẻ đẹp bình dị của cuộc sống qua bát cháo hành và sự chăm sóc chân thành của Thị Nở. Những tiếng chim hót, tiếng cười nói ngoài chợ, ánh nắng buổi sáng… được cảm nhận bằng một tâm hồn đang dần hồi sinh. Qua cách kể chuyện giàu chiều sâu ấy, Nam Cao khẳng định rằng bản chất lương thiện vẫn còn tồn tại trong con người Chí Phèo.

Ngoài ra, tác giả còn rất thành công trong việc xây dựng người kể chuyện và giọng điệu trần thuật. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba nhưng luôn theo sát tâm trạng nhân vật. Giọng kể khi thì lạnh lùng, chua chát, khi lại đầy cảm thông thương xót. Đặc biệt, Nam Cao nhiều lần xen vào những lời bình luận ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa, giúp người đọc hiểu rõ hơn bi kịch của nhân vật và bộ mặt tàn nhẫn của xã hội.

Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện cũng rất độc đáo. Nhà văn sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người nông dân nhưng giàu sức gợi. Những chi tiết nghệ thuật như tiếng chửi của Chí Phèo, bát cháo hành của Thị Nở hay câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” đều trở thành những hình ảnh ám ảnh, góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm.

Theo em, giá trị lớn nhất trong nghệ thuật kể chuyện của Chí Phèo là việc Nam Cao không chỉ kể về số phận của một con người mà còn khám phá sâu sắc bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Qua cách kể chuyện giàu tính hiện thực và nhân đạo, nhà văn khiến người đọc vừa căm phẫn xã hội tàn bạo, vừa xót thương cho những con người bất hạnh.

Có thể nói, Chí Phèo là minh chứng tiêu biểu cho tài năng kể chuyện bậc thầy của Nam Cao. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện niềm tin sâu sắc vào bản chất lương thiện của con người. Đến hôm nay, truyện ngắn này vẫn giữ nguyên giá trị và sức lay động đối với nhiều thế hệ bạn đọc.

Phần trình bày của em xin được kết thúc tại đây. Em rất mong nhận được những chia sẻ và cảm nhận khác từ thầy cô và các bạn về nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm này. Em xin chân thành cảm ơn!

3. Trao đổi đánh giá

Người nói

Người nghe

- Trả lời những thắc mắc từ người nghe.

- Thể hiện thái độ tiếp thu chân thành, cởi mở với những góp ý xác đáng, nghiêm túc.

- Chia sẻ thêm một số điểm mình muốn làm rõ hơn, một số phát hiện khác về tính nghệ thuật của tác phẩm.

- Chia sẻ những điểm thấy hợp lí và hấp dẫn trong bài thuyết trình.

- Nêu những điểm còn băn khoăn hoặc có đánh giá, cảm nhận về tác phẩm khác với người nói.

- Có thể đặt thêm một số câu hỏi để người nói làm rõ hơn về những điều bạn tâm đắc ở tác phẩm.

Người nói và người nghe tham khảo bảng sau để tự đánh giá hay đánh giá về bài trình bày:

STT

Nội dung đánh giá

Kết quả

Đạt

Chưa đạt

1

Giới thiệu các thông tin cần thiết về tác phẩm truyện được lựa chọn để thuyết trình (tác giả, hoàn cảnh ra đời, vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp của nhà văn hay trong lịch sử văn học).



2

Chỉ ra và đánh giá được các phương diện làm nên tính nghệ thuật của tác phẩm truyện.



3

Biết phối hợp nhịp nhàng giữa phần nói và phần trình chiếu hay minh họa trực quan.



4

Có sự tương tác tốt với người nghe, thu hút được sự quan tâm của người nghe đối với tác phẩm.