Soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (những đặc điểm trong cách kể của tác giả) - Kết nối tri thức

6,740 từ~34 phút đọc

Soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (những đặc điểm trong cách kể của tác giả) - Kết nối tri thức

Với soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (Những đặc điểm trong cách kể của tác giả) trang 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.

Soạn bài Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (những đặc điểm trong cách kể của tác giả) - Kết nối tri thức

* Yêu cầu

- Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện được chọn để phân tích (chú ý nêu khái quát các phương diện làm nên tính nghệ thuật của tác phẩm mà bài viết sẽ đi sâu phân tích).

- Nêu được và phân tích một cách cụ thể, rõ ràng về các phương diện nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm (nghệ thuật sáng tạo tình huống, xây dựng cốt truyện, những nét đặc sắc của hình tượng người kể chuyện, cách tổ chức trần thuật, lời văn và giọng điệu,...).

- Nêu nhận định, đánh giá về tác phẩm truyện dựa trên các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục với những phân tích có chiều sâu hay thể hiện góc nhìn mới mẻ.

- Khẳng định giá trị của tác phẩm được chọn để phân tích.

* Phân tích bài viết tham khảo

Văn bản: Một vài nét về nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa.

1. Giới thiệu tác phẩm và phương diện nghệ thuật của tác phẩm mà bài viết sẽ đi sâu phân tích.

- Đời thừa là truyện ngắn nổi bật của Nam Cao trong mảng đề tài về người trí thức. Đánh dấu sự chín muồi trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.

- Đời thừa đặc sắc về nghệ thuật tự sự.

2. Mô tả và đánh giá cách Nam Cao kiến tạo truyện kể.

- Hộ là nhân vật trung tâm.

- Câu chuyện không được thuật lại theo trình tự thời gian, toàn bộ câu chuyện chỉ diễn ra từ ngày hôm trước đến sáng hôm sau với sự kiện chính là trận say rượu của nhà văn Hộ.

3. Chỉ ra đặc điểm của người kể chuyện trong truyện ngắn (ngôi kể và điểm nhìn).

- Ngôi kể: ngôi thứ ba

- Điểm nhìn: điểm nhìn bên trong, gắn với ý thức nhân vật hơn là từ điểm nhìn bên ngoài.

4. Phân tích vai trò của ngôi kể, điểm nhìn và lời trần thuật trong việc khắc họa nhân vật.

- Ngôi kể: Người kể chuyện toàn tri, nắm bắt được toàn bộ diễn biến hành động của nhân vật.

- Điểm nhìn: khắc họa nội tâm, suy nghĩ nhân vật.

- Lời trần thuật: miêu tả, kể lại… những hành động, suy nghĩ của nhân vật.

5. Chỉ ra mối liên hệ giữa người kể chuyện trong tác phẩm với nhà văn.

Người kể chuyện đã thay mặt Nam Cao để làm việc mà ông quan tâm nhất khi cầm bút. Đó là “đau đáu nhìn vào cái nhân cách”, là việc “săn đuổi chính mình đầy ráo riết” và cũng là “săn đuổi cái nhân cách con người ta nói chung”.

6. Đánh giá giá trị của tác phẩm

 Đời thừa là truyện ngắn giàu tính phê phán.

Trả lời câu hỏi:

Câu 1 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa có những phương diện đáng chú ý nào?

Trả lời:

Nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa có những phương diện đáng chú ý:

- Tổ chức mạch truyện

- Người kể chuyện

- Lối trần thuật hướng nội

- Thái độ của người kể với nhân vật

- Lời trần thuật

- Nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong Đời thừa có nhiều phương diện nổi bật, gồm:

+ Cách tổ chức cốt truyện hiện đại: truyện không kể theo trình tự thời gian mà mở đầu từ hiện tại rồi hồi cố về quá khứ của nhân vật Hộ.

+ Kiểu truyện thiên về nội tâm: ít hành động, ít biến cố bên ngoài nhưng tập trung khai thác dòng suy nghĩ và xung đột tinh thần của nhân vật.

+ Điểm nhìn trần thuật bên trong: người kể chuyện ngôi thứ ba nhưng gắn với ý thức của nhân vật Hộ để khám phá đời sống tư tưởng sâu kín.

+ Sử dụng lời nửa trực tiếp: giúp tái hiện chân thực sự dằn vặt, tự vấn, tự kết án của Hộ.

+ Xây dựng bi kịch nhân vật: bi kịch giữa lí tưởng nghệ thuật, lẽ sống tình thương và thực tế cơm áo; từ đó làm nổi bật sự tha hóa nhân cách.

+ Giọng điệu trần thuật đa chiều: vừa cảm thông, vừa nghiêm khắc, có sắc thái mỉa mai và phê phán.

+ Tính phê phán xã hội sâu sắc: phê phán hoàn cảnh xã hội đã đẩy con người vào bi kịch đánh mất chính mình.

Câu 2 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Khi phân tích từng phương diện làm nên sức hấp dẫn của nghệ thuật tự sự trong Đời thừa, tác giả đã đi theo trình tự nào?

Trả lời:

Khi phân tích từng phương diện làm nên sức hấp dẫn của nghệ thuật tự sự trong Đời thừa, tác giả đã đi theo trình tự:

- Miêu tả yếu tố đó.

- Chỉ ra chức năng, vai trò của nó.

- Thái độ của người kể chuyện với nhân vật.

- Đánh giá hiệu quả nghệ thuật của nó.

- Người viết triển khai phân tích theo trình tự khá logic:

+ Khái quát đặc điểm tự sự nổi bật của tác phẩm.

+ Phân tích biểu hiện cụ thể của đặc điểm ấy trong truyện: cách tổ chức cốt truyện, điểm nhìn trần thuật, lời kể, giọng điệu, cách xây dựng nhân vật…

+ Dẫn chứng tiêu biểu từ văn bản để chứng minh.

+ Làm rõ tác dụng nghệ thuật của mỗi phương diện đối với việc thể hiện bi kịch và tư tưởng của nhân vật Hộ.

+ Khái quát giá trị tư tưởng và giá trị hiện thực mà nghệ thuật tự sự ấy đem lại.

=> Nói cách khác, bài viết đi từ đặc điểm → biểu hiện → dẫn chứng → tác dụng → ý nghĩa.

Câu 3 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bạn có thể học hỏi được điều gì từ cách phân tích các phương diện của nghệ thuật tự sự trong Đời thừa? Điều gì ở bài viết chưa làm bạn thỏa mãn.

Trả lời:

- Học hỏi: Khi biết bài văn phân tích các phương diện của nghệ thuật tự sự cần phải nêu được giá trị của văn bản, chỉ ra phương diện nghệ thuật cần đánh giá. Mô tả và nêu vai trò chức năng của nó. Chỉ ra được thái độ của nhân vật và đánh giá hiệu quả nghệ thuật của nó.

- Bài viết chưa đánh giá hiệu quả nghệ thuật của nghệ thuật tự sự.

- Có thể học hỏi ở bài viết:

+ Cách phân tích khoa học, mạch lạc, đi từ khái quát đến cụ thể.

+ Biết kết hợp giữa phân tích nghệ thuật và nội dung tư tưởng của tác phẩm.

+ Dẫn chứng tiêu biểu, được phân tích sâu chứ không chỉ trích dẫn.

+ Chú ý đến những yếu tố tinh tế của nghệ thuật tự sự như điểm nhìn, lời nửa trực tiếp, giọng điệu kể chuyện.

+ Cách liên hệ giữa nghệ thuật tự sự và bi kịch nhân vật giúp bài viết có chiều sâu.

- Điều chưa thật thỏa mãn có thể là:

+ Bài viết khá dài và thiên nhiều về phân tích nội tâm nhân vật nên đôi chỗ còn nặng tính học thuật.

+ Một số phương diện nghệ thuật khác như ngôn ngữ đối thoại, không gian – thời gian nghệ thuật chưa được khai thác sâu.

+ Người đọc đôi khi muốn có thêm sự so sánh với các truyện khác của Nam Cao để thấy rõ nét riêng của Đời thừa.

* Thực hành viết

1. Chuẩn bị viết

- Chọn một tác phẩm truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) để lại cho bạn nhiều ấn tượng về cách kể chuyện.

- Xem lại các tri thức về truyện trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 và trong bài này.

- Từ đó, có thể lựa chọn các đề tài như:

+ Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống truyện và nhân vật trong một tác phẩm truyện.

+ Phân tích đặc điểm, vai trò và chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm truyện.

+ Phân tích cách xây dựng truyện kể của một tác phẩm truyện (cách tổ chức hệ thống sự kiện, điểm nhìn, lời văn,…).

2. Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý

Khi tìm ý, cần đặc biệt quan tâm các vấn đề sau:

- Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, mối liên hệ giữa tác phẩm với nhà văn cùng bối cảnh thời đại và các khuynh hướng, trường phái văn học nghệ thuật liên quan.

- Xác định những phương diện cụ thể trong cách kể chuyện của tác phẩm mà bài viết sẽ đi sâu vào phân tích. Ví dụ, trong bài viết tham khảo, các phương diện đáng chú ý trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Đời thừa là tổ chức mạch truyện, người kể chuyện và lối trần thuật hướng nội (sử dụng điểm nhìn bên trong, nương theo ý thức của nhân vật), thái độ của người kể chuyện với nhân vật và đặc điểm của lời trần thuật. Hay khi lựa chọn đề tài phân tích nét đặc sắc trong lời văn nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn Chữ người tử tù, người viết có thể quan sát và hệ thống hoá những điểm đáng lưu ý về từ ngữ, cấu trúc câu, các phương thức tổ chức điểm nhìn trần thuật, nhịp điệu trần thuật. Với đề tài nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, thử xác định xem những mâu thuẫn nào tạo nên tình huống truyện và tình huống ấy có thể bộc lộ điều gì về các nhân vật.

- Cần chú ý phân tích hiệu quả của các phương thức, phương tiện nghệ thuật đã giúp bộc lộ cảm quan về đời sống của nhà văn cũng như khơi gợi suy tưởng và hứng thú diễn giải ở người đọc. Chẳng hạn, trong bài viết tham khảo, tác giả đã chú ý đến khoảng cách giữa người kể chuyện với nhân vật, từ đó, cho thấy một cảm quan vừa độ lượng vừa nghiêm khắc của nhà văn đối với con người. Với đề tài về lời văn nghệ thuật trong Chữ người tử tù, người viết nên chú ý đến không khí đặc biệt mà truyện ngắn của Nguyễn Tuân gợi ra thông qua những từ ngữ cổ kính, nhịp điệu trần thuật chậm rãi như một thước phim quay chậm cảnh Huấn Cao cho chữ quản ngục.

- Đánh giá giá trị của tác phẩm bạn đã chọn trên phương diện nghệ thuật: Tác phẩm có vị trí như thế nào trong sự nghiệp của nhà văn? Nó đã tạo nên đột phá gì trong cách biểu đạt đời sống, đem đến những ấn tượng, xúc động thẩm mỹ mới mẻ thế nào? Ví dụ, với Đời thừa, người viết cần chỉ ra được cách kể chuyện từ nhiều điểm nhìn của Nam Cao khác biệt như thế nào với cách kể chuyện trong văn học trung đại và với cách kể chuyện ở những sáng tác của những nhà văn cùng thời với ông. Khi phân tích lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Chữ người tử tù, người viết có thể đi đến bàn luận về nhận định rằng có quá lời không khi gọi Nguyễn Tuân là một bậc thầy của tiếng Việt.

Lập dàn ý

Mở bài

Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm nghệ thuật bạn sẽ phân tích. Nêu khía cạnh trong nghệ thuật của tác phẩm mà bạn sẽ tập trung làm rõ.

Thân bài

Căn cứ vào việc xác định các yếu tố làm nên tính nghệ thuật của tác phẩm truyện mà bạn chọn phân tích, triển khai bài viết thành các luận điểm tương ứng. Khi phân tích các yếu tố này có thể đi theo các trình tự: miêu tả yếu tố đó, chỉ ra chức năng, vai trò của nó; đánh giá hiệu quả của nó.

Kết bài

Khẳng định giá trị nghệ thuật của tác phẩm truyện.

Dàn ý cho đề bài “Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân”.

a) Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm:

+ Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với "đất", với "người", với "thuần hậu nguyên thủy" của cuộc sống nông thôn.

+ Nạn đói năm 1945 đã đi vào nhiều trang viết của các nhà văn, nhà thơ trong đó có Vợ nhặt của Kim Lân.

- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề : Tình huống truyện độc đáo trong Vợ Nhặt.

b) Thân bài

* Khái niệm tình huống truyện

- Tình huống truyện là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt mà tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, bộc lộ rõ nét nhất ý đồ tư tưởng của tác giả.

- Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại.

* Phân tích tình huống nhặt vợ

- Bối cảnh xây dựng tình huống truyện:

+ Bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết.

+ Một không khí ảm đạm, thê lương, những người sống luôn bị cái chết đe dọa.

- Tóm tắt tình huống: Vốn là một anh chàng dân ngụ cư, xấu trai, ế ẩm lại nghèo, thế mà Tràng đã “nhặt” được vợ một cách ngẫu nhiên và quá dễ dàng ngay trong những ngày đói chỉ bằng mấy câu hát, mấy lời bông đùa “tầm phơ tầm phào”, mấy bát bánh đúc…

Các chi tiết độc đáo của tình huống truyện:

+ Ở Tràng hội tụ nhiều yếu tố khiến nguy cơ “ế” vợ rất cao:

Ngoại hình xấu xí, thô kệch.

Tính tình có phần không bình thường.

Ăn nói cộc cằn, thô lỗ.

Nhà nghèo, đi làm thuê nuôi mình và mẹ già.

Nạn đói đe dọa, cái chết đeo bám.

+ Tràng lấy vợ là lấy cho mình thêm một tai họa (theo lô gíc tự nhiên).

+ Việc Tràng lấy vợ là một tình huống bất ngờ

Cả xóm ngụ cư ngạc nhiên.

Bà cụ Tứ cũng hết sức ngạc nhiên

Bản thân Tràng có vợ rồi vẫn còn “ngờ ngợ”.

+ Tình huống truyện bất ngờ nhưng rất hợp lý:

Nếu không phải năm đói khủng khiếp thì "người ta" không thèm lấy một người như Tràng.

Tràng lấy vợ theo kiểu “nhặt” được.

* Giá trị của tình huống truyện

- Giá trị hiện thực:

+ Phác họa tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói

Cái đói dồn đuổi con người.

Cái đói bóp méo cả nhân cách.

Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp.

+ Tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân Pháp, phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.

- Giá trị nhân đạo

+ Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của các nhân vật.

Tràng rất trân trọng người “vợ nhặt” của mình.

Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người “vợ nhặt”

Tình yêu thương con của bà cụ Tứ.

+ Con người luôn hướng đến sự sống và luôn hi vọng, tin tưởng ở tương lai:

Tràng lấy vợ là để duy trì sự sống.

Bà cụ Tứ, một người già lại luôn miệng nói về ngày mai với những dự định thiết thực tạo niềm tin cho con dâu vào một cuộc sống tốt đẹp.

Đoạn kết tác phẩm với hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người phá kho thóc Nhật.

c) Kết bài

- Khẳng định tài năng nhà văn qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.

- Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

3. Viết

- Nên triển khai từng ý trong dàn ý thành một đoạn văn; ở từng đoạn văn cần có câu chủ đề đặt ở vị trí thích hợp.

- Cần dẫn lời văn hay chi tiết trong tác phẩm truyện có thể minh họa tốt cho ý đã được nêu.

- Lời văn cần tránh sự bình tán dễ dãi, lan man. Cách phân tích và đánh giá tác phẩm nghệ thuật cần có sự kết hợp hài hòa giữa lí (mạch phân tích) và tình (thái độ của người viết đối với tác phẩm.

Bài viết mẫu tham khảo:

Nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện Vợ nhặt

Để một tác phẩm văn học trở nên thành công thì cần có rất nhiều yếu tố tác động vào như nội dung, nghệ thuật, cùng các giá trị nhân văn mà nó mang lại. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là cách xây dựng tình huống truyện. Một truyện ngắn muốn hay, cuốn hút người đọc thì phải có được một cốt truyện hấp dẫn. Một trong số ít nhà văn được mệnh danh là bậc thầy trong xây dựng cốt truyện đó chính là Kim Lân. Các tác phẩm của ông đều có những nét riêng biệt, đặc sắc, nội bật trong số đó chính là tác phẩm “Vợ nhặt”. Truyện ngắn phản ánh sự thật về nạn đói những năm 1945 và cuộc sống nghèo khổ của nhân dân thời bấy giờ.

Truyện ngắn nói về nhân vật Tràng, một người dân ngụ cư nghèo khổ sống cùng mẹ. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả Tràng như một sản phẩm vội vàng của tạo hóa “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch". Quả thực Tràng là một thanh niên rất xấu xí, chả ai thèm ngó ngàng. Chẳng những vậy, cái nghèo, cái đói luôn đeo bám, quẩn quanh hai mẹ con Tràng. Kim Lân đã dùng những từ ngữ chân thật để miêu tả cuộc sống và ngôi nhà mà Tràng đang ở “những búi cỏ dại lổn nhổn”, “đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà”, “hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi”…. Cuộc sống túng thiếu của hai mẹ con hiện lên thật giản dị, tội nghiệp, khiến người khác không khỏi cảm thấy xót thương cho hai số phận. Nhưng điều làm cho Tràng cảm thấy tủi nhục nhất đó chính là mang trong mình cái danh dân ngụ cư, bị dân làng khinh miệt, coi thường.

Tuy nghèo đói nhưng chàng vẫn có một công việc để làm, để trông mong, đó chính là phu xe, hàng ngày bốc vác, chở gạo ra các chợ. Công việc thì vất vả, đói khát nhưng quả thật anh ta lúc nào cũng có thể vui vẻ, lạc quan. Giữa trời trưa nắng gắt, phải kéo cả một xe gạo đầy nặng trĩu, nhưng chàng ta vẫn có sức cất lên những câu hò:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”

Những câu hò này không hẳn là có ý trêu ghẹo những cô gái ngồi bên đường, mà chủ yếu để giúp chàng ta quên đi những mệt mỏi, đói khát mà mình đang phải chịu. Ấy vậy mà chỉ bằng vài ba lời hát vu vơ mà khiến Tràng được một người con gái để ý và đi theo đẩy giúp. Tràng là ngưởi hiểu rõ hơn ai hết những gì mà mình hát ở trên không phải là sự thật, làm gì mà có gạo trắng mà ăn chứ nói gì đến giò chả. Để rồi đến khi gặp người con gái ấy lần thứ hai, Tràng đã rất đỗi ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoại hình của Thị “Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt”.

Quả thực Thị đã gầy đi rất nhiều, có lẽ vì đói, vì khát mà cơ thể con người Thị đã bị tàn phá nhanh đến như vậy. Thị chạy đến sưng sỉa trước mặt Tràng “Điêu! người thế mà điêu”, mới đầu hắn ta chẳng hiểu gì nhưng rồi một lúc cũng ngộ ra rồi mời Thị đi ăn “thích ăn gì thì ăn”. Thị ta chẳng ngại ngùng gì mà cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, quả thực lúc này thị ta nhìn rất trơ trẽn. Người ngoài nhìn vào có người sẽ khinh bỉ, cho rằng thị ta đang vứt hết cả lòng tự trọng đi để ăn, nhưng cũng sẽ có những người xót thương, đồng cảm cho một con người đang phải chịu cơn đói hành hạ. Khi ấy, con người ta chẳng còn bận tâm đến danh dự, hay nhân phẩm gì nữa, ăn no mới là điều quan trọng trước hết. Đợi đến khi Thị ăn xong, Tràng có nói câu nửa vui nửa đùa rằng “về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về”. Tưởng Thị sẽ cười chê mình, nào ngờ Thị về thật, về làm dâu nhà Tràng. Một đám cưới diễn ra.

Việc một con trai lớn lên, xây nhà, cưới vợ là việc quá đỗi bình thường, nhưng nhân vật Tràng lại là một thanh niên xấu xí, nghèo đói, gia cảnh khó khăn, đặc biệt là dân ngụ cư nữa nên việc Tràng có được vợ làm rất nhiều người ngạc nhiên. Qua đây, ta đã thấy được nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân: vợ đáng lẽ ra là người ta yêu, qua tìm hiểu, đính ước mà đến với nhau, nhưng ở đây, Tràng ta lại “nhặt” được vợ theo đúng nghĩa đen và của hồi môn chắc có lẽ chỉ là vài bát bánh đúc mà thị ta vừa ăn lúc trước.

Việc Tràng có vợ khiến rất nhiều người ngạc nhiên, cụ Tứ – mẹ Tràng cùng tất cả những người thôn ngụ cư, người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc", người lại lo dùm cho anh ta "Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về". Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người đời cười chê, chế nhạo thế nhưng chẳng làm hai vợ chồng Tràng cảm thấy tủi nhục, xấu hổ. Cho đến khi dẫn Thị về nhà, cả cụ Tứ lẫn Tràng đều không tin nhà mình có con dâu.

Cụ Tứ vừa vui vừa buồn, vừa cảm thấy thương xót cho con trai mình. Bà vui vì con trai mình đến tuổi trưởng thành đã cưới được vợ, bà mừng cho hai đứa chúng nó, nhưng bà cũng buồn, buồn vì gia đình nhà mình quá nghèo. Đám cưới gì mà chẳng có cờ có hoa, không một mâm cỗ, không kèn trống, không người đưa đón, chỉ đơn giản là đưa dẫn nhau về ở chung, cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình. Bước vào căn nhà lụp xụp mà hai mẹ con Tràng đang ở mà Thị chỉ biết thở dài, bắt tay vào công việc dọn dẹp. Đến bữa ăn về nhà chồng cũng chỉ là nồi cháo loãng với chút muối trắng, cuộc sống của ba con người quả thực rất nghèo khổ.

Qua câu chuyện, nhà văn đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khổ bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình. Ông xót thương cho dân tộc trước thảm họa đói chết. Ông cũng ái ngại cho người con gái bị nạn đói cướp đi gần hết (gia đình, nhan sắc, tính cách, tên tuổi…).

Không những vậy, nhà văn còn rất tinh tế khi phát hiện ra khát vọng hạnh phúc và niềm vui khi nhặt vợ của Tràng; cái duyên thầm của thị qua cái liếc mắt với Tràng…Có thể nói, nhà văn rất trân trọng và tự hào về vẻ đẹp nhân tính của con người lao động nghèo trước thảm họa đau thương, chết chóc.

Đồng thời nhà văn còn tập trung ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động qua hình ảnh của bà cụ Tứ: một người mẹ giàu tình thương con, giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống và đây cũng chính là niềm tin của nhà văn vào phẩm chất tốt đẹp của con người.

Thông qua tình huống truyện, nhà văn lên án và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thảm họa đói nghèo, chết chóc. Chính chúng đã làm cho giá trị con người trở thành rẻ rúng như rơm như rác: vợ mà nhặt được.

Đúng là một tình huống truyện rất lạ mà Kim Lân đã dựng nên. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ muốn nói lên nét đẹp trong tính cách con người Việt Nam là dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào, lúc nào cũng có thể đối mặt với cái chết nhưng họ vẫn yêu thương, quan tâm nhau mà ông còn muốn lên án chế độ thực dân độc ác đã khiến nhân dân ta trở nên nghèo đói, lầm than.

Phân tích đặc điểm, vai trò và chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao.

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng, Nam Cao là cây bút đặc biệt xuất sắc ở nghệ thuật tự sự, nhất là trong việc tổ chức điểm nhìn và xây dựng hình tượng người kể chuyện. Truyện ngắn Chí Phèo không chỉ gây ấn tượng bởi nội dung sâu sắc mà còn bởi cách kể chuyện độc đáo, trong đó người kể chuyện giữ vai trò trung tâm trong việc dẫn dắt, soi chiếu và lí giải số phận nhân vật. Phân tích đặc điểm, vai trò và chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm này giúp ta nhận ra rõ hơn tài năng cũng như tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao.

Trước hết, về đặc điểm, người kể chuyện trong Chí Phèo là người kể ở ngôi thứ ba, giấu mình nhưng có sự am hiểu tường tận về thế giới nhân vật. Đây là kiểu người kể chuyện toàn tri, có khả năng quan sát cả bên ngoài lẫn đi sâu vào nội tâm nhân vật. Nhờ đó, câu chuyện vừa giữ được vẻ khách quan, vừa giàu chất phân tích tâm lí. Người kể không chỉ thuật lại hành động mà còn thâm nhập vào dòng ý thức của Chí Phèo, tái hiện chân thực những biến chuyển tinh vi trong tâm trạng hắn, đặc biệt là từ khi gặp Thị Nở. Chẳng hạn, khi Chí Phèo tỉnh rượu, người kể đã diễn tả rất rõ cảm giác “miệng đắng, lòng mơ hồ buồn”, hay nỗi khát khao được “làm hòa với mọi người”. Những chi tiết này không thể có nếu thiếu một người kể chuyện có khả năng “đi vào bên trong” như vậy.

Bên cạnh đó, người kể chuyện trong Chí Phèo còn mang đặc điểm của một giọng kể linh hoạt, có sự đan xen giữa nhiều điểm nhìn. Có lúc người kể đứng ở bên ngoài để miêu tả khách quan hình dáng “trông đặc như thằng săng đá” của Chí Phèo; có lúc lại nhập vào điểm nhìn của dân làng Vũ Đại để tái hiện cái nhìn định kiến của xã hội đối với hắn; và cũng có khi chuyển hẳn vào nội tâm nhân vật để bộc lộ những suy nghĩ sâu kín nhất. Sự linh hoạt ấy tạo nên một cái nhìn đa chiều, giúp người đọc hiểu nhân vật không chỉ qua hành động mà còn qua cách nhìn của xã hội và qua chính cảm nhận của nhân vật về bản thân mình.

Không chỉ dừng lại ở việc kể và miêu tả, người kể chuyện trong Chí Phèo còn đảm nhiệm vai trò quan trọng trong việc bộc lộ thái độ, tư tưởng của tác giả. Đằng sau giọng kể tưởng như khách quan ấy là một cái nhìn đầy trăn trở, xót xa và nhân đạo. Khi miêu tả Chí Phèo, người kể không hề đơn thuần coi hắn là một kẻ lưu manh mà luôn gợi ra câu hỏi: “Ai đã làm cho hắn thành ra như thế?”. Câu hỏi ấy không chỉ là lời trần thuật mà còn là một lời chất vấn xã hội sâu sắc. Người kể chuyện, vì thế, trở thành cầu nối giữa tác phẩm và tư tưởng của nhà văn, giúp người đọc nhận ra bản chất tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến đã đẩy con người vào con đường tha hóa.

Vai trò của người kể chuyện còn thể hiện rõ ở việc tổ chức kết cấu và dẫn dắt mạch truyện. Chí Phèo không được kể theo trình tự thời gian tuyến tính mà có sự đảo lộn, đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Người kể mở đầu bằng hình ảnh Chí Phèo say rượu chửi đời, rồi mới quay ngược lại kể về nguồn gốc, xuất thân của hắn. Cách kể này tạo nên sự tò mò, gây ấn tượng mạnh và làm nổi bật bi kịch của nhân vật ngay từ đầu. Chính người kể chuyện là người điều phối mạch kể, lựa chọn chi tiết, sắp xếp trình tự để câu chuyện đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất.

Một chức năng quan trọng khác của người kể chuyện trong Chí Phèo là chức năng phân tích và lí giải. Không giống với lối kể chuyện đơn thuần, Nam Cao thông qua người kể để đi sâu vào bản chất của hiện tượng, của con người. Người kể không chỉ cho thấy Chí Phèo say rượu, chửi bới mà còn lí giải nguyên nhân sâu xa của hành động ấy: đó là sự cô độc, là nỗi đau bị cự tuyệt quyền làm người. Khi Chí Phèo khát khao lương thiện, người kể cũng giúp người đọc nhận ra rằng đó là một khát vọng chính đáng nhưng lại không thể thực hiện trong một xã hội đầy định kiến và bất công. Nhờ chức năng này, tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực mà còn đạt đến chiều sâu tư tưởng.

Đặc biệt, người kể chuyện trong Chí Phèo còn có chức năng tạo nên giọng điệu trần thuật đặc sắc. Giọng điệu ấy là sự kết hợp giữa mỉa mai, châm biếm và xót xa, cảm thông. Khi kể về những hành vi lưu manh của Chí Phèo, giọng kể có thể mang sắc thái châm biếm, nhưng khi đi sâu vào bi kịch của hắn, giọng điệu lại trở nên trầm lắng, đầy thương cảm. Sự biến đổi giọng điệu linh hoạt ấy góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật cũng như thái độ của nhà văn đối với hiện thực.

Tóm lại, người kể chuyện trong Chí Phèo không chỉ là một “người dẫn chuyện” đơn thuần mà còn là một chủ thể nghệ thuật quan trọng, giữ vai trò tổ chức, soi chiếu và lí giải toàn bộ thế giới của tác phẩm. Với những đặc điểm nổi bật như toàn tri, linh hoạt về điểm nhìn, giàu khả năng phân tích và biểu đạt thái độ, người kể chuyện đã góp phần quyết định vào thành công của truyện ngắn. Qua đó, ta càng thấy rõ tài năng tự sự bậc thầy của Nam Cao cũng như giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc mà Chí Phèo mang lại.

Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao.

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là cây bút có biệt tài khám phá chiều sâu tâm lí con người. Các nhân vật của ông không chỉ được khắc họa bằng hành động hay ngoại hình mà còn hiện lên qua những giằng xé nội tâm đầy ám ảnh. Truyện ngắn Chí Phèo là kiệt tác tiêu biểu cho tài năng ấy. Thành công nổi bật của tác phẩm nằm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, đặc biệt qua hình tượng Chí Phèo – người nông dân bị tha hóa nhưng vẫn le lói khát vọng làm người lương thiện.

Trước hết, Nam Cao rất thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật qua cách miêu tả ngoại hình. Ngay từ khi xuất hiện, Chí Phèo đã gây ấn tượng mạnh với hình dáng đầy dị dạng: “cái đầu trọc lốc”, “cái răng cạo trắng hớn”, “cái mặt đen mà rất cơng cơng”, trên người đầy những hình xăm chằng chịt. Ngoại hình ấy không còn dáng vẻ của một người nông dân hiền lành mà mang dáng dấp của một kẻ lưu manh, dữ tợn. Qua đó, Nam Cao cho thấy sự hủy hoại ghê gớm của xã hội thực dân phong kiến đối với con người. Nhà tù thực dân và bàn tay của Bá Kiến đã biến một anh canh điền lương thiện thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Chỉ bằng vài nét khắc họa ngoại hình, tác giả đã làm nổi bật bi kịch tha hóa của nhân vật.

Không chỉ đặc sắc ở ngoại hình, Nam Cao còn xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ rất sống động và cá thể hóa. Tiếng chửi mở đầu truyện là một chi tiết nghệ thuật độc đáo. Chí Phèo “vừa đi vừa chửi”, chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại rồi chửi “đứa nào không chửi nhau với hắn”. Đằng sau tiếng chửi tưởng như vô nghĩa ấy là nỗi đau đớn của một con người bị xã hội ruồng bỏ. Chí chửi để mong có người đáp lại, nghĩa là hắn vẫn khao khát được thừa nhận là một con người tồn tại giữa cuộc đời. Qua ngôn ngữ nhân vật, Nam Cao đã diễn tả sâu sắc bi kịch cô độc của người nông dân bị tước đoạt quyền làm người.

Đặc biệt, nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nam Cao đạt đến đỉnh cao ở khả năng phân tích tâm lí. Nhà văn đã đi sâu khám phá những biến đổi phức tạp trong nội tâm Chí Phèo. Nếu trước kia Chí sống trong men rượu và những cơn say triền miên thì sau khi gặp Thị Nở, phần người trong hắn bắt đầu thức tỉnh. Bát cháo hành giản dị của Thị Nở đã đánh thức những cảm xúc tưởng chừng đã chết hẳn. Lần đầu tiên sau bao năm, Chí nghe thấy tiếng chim hót, tiếng người cười nói ngoài chợ, cảm nhận được ánh nắng và cuộc sống bình thường. Hắn nhớ lại ước mơ nhỏ bé ngày xưa: có một gia đình nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Những diễn biến tâm lí ấy được Nam Cao miêu tả tinh tế và chân thực, cho thấy dù bị tha hóa đến đâu, sâu thẳm trong Chí vẫn còn bản chất lương thiện.

Tuy nhiên, bi kịch của Chí Phèo không dừng ở sự tha hóa mà còn ở con đường trở về làm người bị chặn đứng. Khi bà cô Thị Nở ngăn cản mối quan hệ giữa Thị và Chí, Chí đau đớn nhận ra xã hội không chấp nhận hắn trở lại làm người lương thiện nữa. Câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” là tiếng kêu tuyệt vọng của một con người bị dồn đến bước đường cùng. Qua việc xây dựng tình huống truyện đầy kịch tính, Nam Cao đã đẩy bi kịch nhân vật lên đến cao trào. Hành động giết Bá Kiến rồi tự sát của Chí không chỉ là sự phản kháng dữ dội mà còn là lời tố cáo xã hội tàn bạo đã cướp mất quyền sống của con người.

Bên cạnh nhân vật Chí Phèo, Nam Cao còn xây dựng thành công các nhân vật khác như Bá Kiến và Thị Nở để làm nổi bật chủ đề tác phẩm. Bá Kiến là hình ảnh điển hình của giai cấp thống trị nham hiểm, xảo quyệt, chuyên dùng thủ đoạn để cai trị dân làng. Thị Nở lại là người đàn bà xấu xí, nghèo khổ nhưng có tấm lòng chân thành, giàu tình thương. Chính sự đối lập giữa các nhân vật đã góp phần làm nổi bật bi kịch và khát vọng của Chí Phèo.

Ngoài ra, nghệ thuật trần thuật của Nam Cao cũng rất độc đáo. Tác giả kể chuyện linh hoạt, kết hợp giữa giọng điệu lạnh lùng, chua chát với sự cảm thông sâu sắc dành cho nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện gần gũi, tự nhiên mà giàu sức gợi. Cách xây dựng tình huống truyện, miêu tả tâm lí và sử dụng chi tiết nghệ thuật như tiếng chửi, bát cháo hành, hơi rượu… đều góp phần tạo nên giá trị đặc sắc cho hình tượng nhân vật.

Có thể nói, bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật tài tình, Nam Cao đã tạo nên hình tượng Chí Phèo sống mãi trong lòng người đọc. Nhân vật không chỉ phản ánh số phận bi thảm của người nông dân trước Cách mạng mà còn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn: tin vào bản chất lương thiện và khát vọng được sống đúng nghĩa của con người. Chí Phèo vì thế mãi là một kiệt tác của văn học Việt Nam hiện đại.

4. Chỉnh sửa, hoàn thiện

- Đọc lại và kiểm tra bài viết. Đối chiếu với các yêu cầu của kiểu bài và dàn ý đã lập để có những chỉnh sửa cần thiết.

- Xem lại mạch triển khai ý tưởng, cách diễn giải một số khái niệm liên quan đến nghệ thuật kể chuyện, các chi tiết, dẫn chứng được lựa chọn để làm rõ các luận điểm,… để đảm bảo sự chặt chẽ, mạch lạc, chính xác của bài viết. Đặc biệt, nên chỉnh sửa những đoạn sa vào bàn luận nội dung của tác phẩm mà thiếu những phân tích có sự gắn kết nó với các phương diện thuộc về nghệ thuật kể chuyện.

- Rà soát và chỉnh sửa các lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.