Soạn bài Trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ - Kết nối tri thức
Soạn bài Trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ - Kết nối tri thức
Với soạn bài Trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ trang 58, 59 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.
Soạn bài Trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ - Kết nối tri thức
Yêu cầu
- Giới thiệu được hai bài thơ và lí do lựa chọn hai bài thơ đó để so sánh, đánh giá.
- Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ xét theo một số phương diện đã xác định.
- Có những nhận xét, đánh giá thuyết phục về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ dựa trên kết quả so sánh.
- Nêu được những ý kiến trao đổi xác đáng giúp người nói và người nghe có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về hai bài thơ được so sánh.
1. Chuẩn bị nói
Bài nói nhằm truyền tải đến người nghe kết quả của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ đã thực hiện ở phần Viết. Để đạt được mục tiêu này, cần chuẩn bị bài nói theo những yêu cầu sau:
- Tóm tắt nội dung bài viết so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ.
- Đánh dấu những luận điểm hoặc thông tin chính của bài viết. Ghi chú những dẫn chứng quan trọng cần được nêu lên khi trình bày từng luận điểm.
- Xác định những từ ngữ then chốt gắn với từng luận điểm để dễ triển khai, đảm bảo cho bài nói có trọng tâm.
- Chuẩn bị các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ và hình ảnh minh hoạ (nếu có) với các thông tin chắt lọc về mỗi bài thơ.
2. Thực hành nói
- Mở đầu: Giới thiệu được hai bài thơ và lí do lựa chọn để so sánh, đánh giá. Việc giới thiệu có thể được dẫn dắt theo lối trực tiếp hoặc gián tiếp; lí do trình bày có thể là lí do khách quan hay chủ quan, nhưng cần nêu được những cơ sở để so sánh.
- Triển khai:
+ Trình bày được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ trên một số phương diện đã xác định.
+ Đánh giá được giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ dựa trên kết quả so sánh.
- Kết luận: Nêu ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá trong tiếp nhận văn bản thơ.
Bài nói tham khảo:
Xin chào thầy cô và các bạn. Tôi là ………… Lớp …….. Trường ………………
Các bạn thân mến! Từ xưa đến nay, văn học luôn mang đậm dấu ấn của con người. Dù mô tả về một cánh đồng, dòng sông, hoặc âm nhạc của thiên nhiên, tác phẩm vẫn hướng về con người. Thiên nhiên trong văn học là bức tranh phản ánh tâm trạng của con người: buồn thì cảnh buồn, vui thì cảnh vui. Hai bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu và "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi cũng minh chứng điều này.
Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận và đề tài hấp dẫn đối với các nhà thơ qua các thời kỳ. Từ Huy-gô, Rim-bô, Véc-len, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến cho đến Tản Đà, mỗi người đã sáng tác những bài thơ độc đáo về mùa thu. Mặc dù cảnh vật mùa thu không thay đổi, nhưng cảm xúc của nhà thơ mỗi thời điểm lại khác nhau, tạo ra những vẻ đẹp độc đáo trong từng bài thơ.
Bài Đây mùa thu tới là một bài thơ hay về mùa thu của Xuân Diệu trước cách mạng. Bài Đất nước (1948-1955) của Nguyễn Đình Thi không phải là bài thơ viết về mùa thu, nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu. Hai bài thơ viết trong hai giai đoạn lịch sử khác nhau, thể hiện hai trạng thái cảm xúc khác nhau của nhà thơ trước mùa thu.
Cảnh mùa thu trong bài thơ "Đây mùa thu tới" truyền đạt một nỗi buồn sâu sắc. Nỗi buồn này không chỉ là biểu tượng của mùa thu mà còn là biểu tượng của thời đại và của "thơ mới". Sự lạnh lẽo của mùa thu khơi gợi cảm giác cô đơn, sự chia lìa từ thiên nhiên đến con người, và nỗi nhớ thầm lặng trong lòng. Hình ảnh rặng liễu buồn như những cô gái chịu tang cùng với dòng lệ tuôn rơi mở đầu bài thơ, cùng với hình ảnh hoa, lá rụng, cây khô gầy và vầng trăng bơ vơ trong các khổ thơ tiếp theo, tất cả tạo ra một không gian u uất, phai nhạt, làm nổi bật nỗi buồn cô đơn. Mặc dù vậy, cảnh thu vẫn mang trong mình một vẻ đẹp dịu dàng, trẻ trung. Xuân Diệu mô tả mùa thu với sắc vàng tươi tắn như tấm áo mơ phai dệt lá vàng, tạo ra một không gian sáng sủa, tươi mới. Dù mang trong mình nét buồn, nhưng mùa thu vẫn chứa đựng sức sống trẻ trung, được tác giả phát hiện thông qua con mắt trẻ trung, là biểu hiện của tuổi trẻ và tình yêu trong cảnh vật.
Cảnh thu rất đẹp mà buồn vì lòng người lúc ấy còn buồn bã. Nỗi buồn của Xuân Diệu cũng là nỗi buồn của cả một thế hệ trí thức tiểu tư sản đương thời “yêu đời nhưng đau đời” (Huy Cận) chưa tìm được lối ra. Nỗi buồn ấy chính là tấm lòng thiết tha yêu đời, thiết tha giao cảm với đời.
Đang trong tâm trạng ấy cho nên nhà thơ rất nhạy cảm trước khung cảnh đất trời chuyển vào thu:
Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Câu thơ cất lên như một tiếng reo khẽ, vồ vập, khi chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của mùa thu. Phải có tấm lòng yêu đời thì giữa cảnh thu buồn bã, nhà thơ mới có thể đón nhận được một niềm vui nho nhỏ như thế. Sự nhạy cảm của hồn thơ Xuân Diệu còn được thể hiện qua cách cảm nhận của mùa thu. Nếu trong phần mở đầu, tác giả phát hiện cảnh thu bằng thị giác để tái hiện sắc thu thì đến phần giữa bài thơ tác giả đã thâm nhập vào bên trong cảnh vật để cảm nhận tinh tế bằng cảm giác của mình: Cành lá run rẩy, sắc lá đổi màu, nhành cây ớn lạnh đến tận xương khô, rét mướt luồn trong gió. Cuối cùng nhà thơ gửi gắm tâm trạng của mình qua nỗi lòng của người thiếu nữ. “Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”, một nỗi nhớ thương ngơ ngác mặc dù cô thiếu nữ không nói, nhưng rõ ràng đó là tư thế suy tư của người muốn đón nhận, của tâm trạng đang hướng về cuộc đời.
Tóm lại: cảnh thu, lòng người trước mùa thu có buồn bã cô đơn, nhưng không quá tuyệt vọng mà vẫn tươi trẻ. Toát lên từ toàn bộ bài thơ cảnh thu là vẻ đẹp của một nỗi buồn. Đó là nỗi buồn đầy cảm xúc của cái tôi cô đơn biểu hiện một niềm yêu đời, khát khao giao cảm với đời của nhà thơ Xuân Diệu.
Bài thơ "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi thể hiện sự kháng chiến quyết liệt của dân tộc Việt Nam trong 9 năm (1946 - 1954), nhưng cảm hứng của đất nước lại xuất phát từ mùa thu. Bài thơ mở đầu với hình ảnh mùa thu trong lành, với câu "Sáng mát trong như sáng năm xưa" và "Gió thổi mùa thu hương cốm mới", đó là cảnh sắc quen thuộc của mùa thu Việt Nam. Mùa thu rạng rỡ, vui tươi. Tiếp theo, tác giả miêu tả cảnh mùa thu Hà Nội, nơi người dân ra đi vì nghĩa lớn. Đó là cảnh thu với vẻ đẹp thơ mộng nhưng cũng đầy buồn bã, buồn vì tưởng như bóng người đã biến mất. Buồn vì sự chia ly không muốn rời bỏ, nhưng lại phải ra đi:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Mùa thu hiện tại, đặc biệt là mùa thu sau Cách mạng tháng Tám, đang diễn ra ở chiến khu Việt Bắc, nơi đang tự do và là căn cứ của cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự điều khiển của Bác Hồ và Chính phủ kháng chiến. Nguyễn Đình Thi đặt chân đến mùa thu này với niềm vui rất lớn, niềm vui của sự tự do, ít nhất là ở chiến khu này. Trong tâm trạng hạnh phúc ấy, tác giả nhìn thấy cảnh thu với sự tươi sáng, tràn đầy sức sống và âm thanh màu sắc rực rỡ, tươi vui. Bầu trời như mặc chiếc áo mới, cảnh vật như được hồi sinh, và âm thanh của cuộc sống rộn ràng, phấn khích.
Không gian mùa thu trải dài, mở rộng qua các con đường, dòng sông, đồng ruộng, và khu rừng của đất nước. Cảm hứng của Nguyễn Đình Thi trong bài "Đất nước" là cảm hứng tự hào của một nghệ sĩ tham gia vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc độc lập tự do. Trong khi đó, đoạn thơ về mùa thu Hà Nội năm 1946 có thể hiện nỗi buồn của một người phải tạm biệt quê hương để tham gia cuộc kháng chiến vì nghĩa lớn, khác với nỗi buồn trong thơ của Xuân Diệu. Cảm hứng chính của Nhà thơ vẫn là niềm vui và tự hào về đất nước, về sự độc lập và quyền tự chủ, do đó đoạn thơ về mùa thu ở chiến khu Việt Bắc phản ánh sự kiêu hãnh và tự hào.
Xét về cách viết về mùa thu, trong khi Xuân Diệu thấy một mùa thu đẹp nhưng buồn bã, thì Nguyễn Đình Thi lại thấy một mùa thu tràn đầy sức sống, âm thanh và màu sắc. Sự khác biệt này phản ánh sự thời đại chi phối hồn thơ, với cảm xúc về thời đại quyết định cảm hứng và tình thơ của nhà thơ, từ đó cũng quyết định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
Trước cách mạng, Xuân Diệu sống trong cảnh ngộ của người dân nô lệ. Nỗi buồn của người dân mất nước đã tạo nên cách nhìn, cách cảm của thi nhân trước mùa thu. Từ sau cách mạng Xuân Diệu đã đến với đất nước bằng niềm vui, niềm tự hào nên cảnh thu cũng đã thay đổi.
Ba năm qua nay lại mùa thu tới
Mỗi lần thu tới lại mùa thu tới
Thu từ nay không thu thảm thu sầu
Mà thu sướng nhuộm màu xuân mát mát
Lá biếc xanh xanh
Trời thu bát ngát
Da tươi thịt thắm
Nở lại cùng sương
Ảnh mây bay như múa khúc nghê thường
Nắng hạ giọng nói những điều dịu sáng.
Còn Nguyễn Đình Thi viết bài Đất nước sau cách mạng lúc nhà thơ đã là một người dân tự do, cùng nhân dân làm chủ đất nước. Thời đại mới, đã tạo nên cảm hứng mới cho nhà thơ. Vì vậy, cảnh thu trong cách nhìn, cánh cảm nhận của nhà thơ trở nên trong trẻo, tươi sáng, tràn đầy sức sống niềm vui.
Trên đây là phần trình bày bài nói của tôi về việc so sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ: Đây mùa thu tới - Xuân Diệu và Đất nước - Nguyễn Đình Thi. Cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe. Hi vọng nhận được sự góp ý của tất cả mọi người.
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, thơ ca kháng chiến chống Pháp luôn giữ một vị trí đặc biệt, bởi nó không chỉ phản ánh hiện thực lịch sử mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam trong những năm tháng gian khổ mà hào hùng. Trong số những tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này, Tây Tiến của Quang Dũng và Việt Bắc của Tố Hữu là hai thi phẩm nổi bật. Dù cùng viết về đề tài cách mạng và kháng chiến, mỗi bài thơ lại mang một sắc thái riêng, góp phần làm nên sự phong phú của nền thơ ca dân tộc. Hôm nay, em xin trình bày phần so sánh và đánh giá hai tác phẩm này.
Trước hết, xét về điểm tương đồng, cả hai bài thơ đều được sáng tác trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vì vậy đều thấm đẫm cảm hứng yêu nước và tinh thần dân tộc. Trong Tây Tiến, Quang Dũng tái hiện hình ảnh người lính Tây Tiến với lòng dũng cảm, sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ, hi sinh vì Tổ quốc. Còn trong Việt Bắc, Tố Hữu lại khắc họa mối quan hệ gắn bó sâu nặng giữa cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc – nơi từng là căn cứ địa cách mạng. Dù thể hiện ở những phương diện khác nhau, cả hai đều làm nổi bật vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh: kiên cường, nghĩa tình và giàu lý tưởng.
Bên cạnh đó, cả hai tác phẩm đều mang đậm cảm hứng lãng mạn – một đặc điểm tiêu biểu của thơ ca thời kỳ này. Tuy hiện thực chiến tranh đầy gian khổ, thiếu thốn, nhưng qua lăng kính của các nhà thơ, nó vẫn hiện lên với vẻ đẹp đầy chất thơ. Trong Tây Tiến, chất lãng mạn thể hiện ở việc lý tưởng hóa hình ảnh người lính: họ hiện lên vừa hào hùng, vừa hào hoa, mang vẻ đẹp bi tráng. Trong khi đó, ở Việt Bắc, chất lãng mạn lại nằm ở những kỷ niệm ân tình, những hình ảnh thiên nhiên và con người được tái hiện đầy trìu mến, tạo nên một không gian đậm chất trữ tình.
Tuy nhiên, nếu đi sâu phân tích, ta sẽ thấy rõ những điểm khác biệt cơ bản giữa hai tác phẩm.
Trước hết là sự khác biệt về nội dung cảm hứng. Tây Tiến tập trung khắc họa hình tượng người lính – những con người mang trong mình lý tưởng cao đẹp, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy. Hình ảnh người lính trong bài thơ không chỉ hiện lên qua những gian khổ nơi núi rừng hiểm trở mà còn qua vẻ đẹp tâm hồn: họ lãng mạn, yêu đời và không kém phần hào hoa. Ngược lại, Việt Bắc lại đi sâu vào khai thác tình nghĩa cách mạng, thể hiện qua nỗi nhớ da diết giữa người đi và kẻ ở. Đó không chỉ là nỗi nhớ về con người mà còn là nỗi nhớ về một thời kỳ lịch sử đầy ý nghĩa.
Tiếp theo là sự khác biệt về giọng điệu. Tây Tiến mang giọng điệu phóng khoáng, mạnh mẽ, có lúc dữ dội, có lúc trầm lắng. Những câu thơ giàu hình ảnh, nhịp điệu linh hoạt đã góp phần tái hiện chân thực và sống động cuộc sống của người lính. Trong khi đó, Việt Bắc lại mang giọng điệu ngọt ngào, tha thiết, giống như một khúc hát giao duyên. Việc sử dụng thể thơ lục bát truyền thống khiến bài thơ trở nên gần gũi, dễ đi vào lòng người.
Về phương diện nghệ thuật, hai tác phẩm cũng thể hiện những phong cách sáng tác khác nhau. Quang Dũng trong Tây Tiến sử dụng nhiều hình ảnh độc đáo, giàu chất hội họa, tạo nên những bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa dữ dội. Ngôn ngữ thơ có phần táo bạo, giàu tính tạo hình, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp bi tráng của người lính. Ngược lại, Tố Hữu trong Việt Bắc lại sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Những hình ảnh quen thuộc, mang đậm màu sắc dân gian đã giúp bài thơ dễ dàng chạm đến cảm xúc của người đọc.
Từ những điểm so sánh trên, có thể thấy mỗi tác phẩm đều mang một giá trị riêng. Tây Tiến nổi bật với việc xây dựng thành công hình tượng người lính mang vẻ đẹp vừa hào hùng vừa lãng mạn, góp phần làm giàu thêm hình ảnh người chiến sĩ trong văn học Việt Nam. Trong khi đó, Việt Bắc lại tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu, thể hiện sâu sắc tình nghĩa cách mạng – một giá trị tinh thần quan trọng của dân tộc ta.
Nếu ví von, Tây Tiến giống như một bản hùng ca vang dội, khắc họa khí phách của người lính nơi chiến trường, thì Việt Bắc lại như một khúc hát ân tình, lắng đọng và sâu sắc. Hai tác phẩm, hai phong cách, nhưng đều góp phần làm nên diện mạo phong phú của thơ ca kháng chiến.
Tóm lại, việc so sánh Tây Tiến và Việt Bắc không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn đặc điểm của từng tác phẩm mà còn thấy được sự đa dạng trong phong cách sáng tác của các nhà thơ cùng thời. Qua đó, ta càng thêm trân trọng những giá trị mà văn học đã mang lại, đồng thời hiểu sâu sắc hơn về lịch sử và con người Việt Nam trong những năm tháng đấu tranh gian khổ.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hôm nay, em xin trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Việt Bắc của Tố Hữu.
Em lựa chọn hai bài thơ này vì đây đều là những tác phẩm tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, cùng viết về cảm hứng đất nước nhưng mỗi bài thơ lại mang dấu ấn nghệ thuật riêng. Việc so sánh hai tác phẩm giúp chúng ta hiểu rõ hơn vẻ đẹp của hình tượng đất nước trong thơ ca Việt Nam hiện đại cũng như phong cách sáng tác của mỗi nhà thơ.
Khi thực hiện so sánh, em tập trung vào các phương diện chính như: cảm hứng nghệ thuật, hình tượng đất nước, bút pháp thơ và giọng điệu.
Trước hết, điểm tương đồng nổi bật của hai bài thơ là đều thể hiện tình yêu đất nước sâu sắc và niềm tự hào dân tộc trong thời kì kháng chiến. Trong Đất nước, Nguyễn Đình Thi khắc họa hình ảnh đất nước đau thương nhưng anh hùng:
“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”
Đất nước hiện lên với sức sống mạnh mẽ, quật cường.
Còn trong Việt Bắc, Tố Hữu tái hiện khí thế kháng chiến sôi nổi và tình nghĩa cách mạng sâu nặng:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung.”
Qua đó, cả hai nhà thơ đều ca ngợi sức mạnh của nhân dân và vẻ đẹp của đất nước trong chiến đấu.
Tuy nhiên, giữa hai bài thơ cũng có nhiều điểm khác biệt.
Trong Đất nước, cảm hứng thơ mang màu sắc sử thi và giàu chất suy tưởng. Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước từ chiều sâu lịch sử, với giọng thơ hào hùng, mạnh mẽ. Hình ảnh thơ giàu tính khái quát và hiện đại.
Ngược lại, Việt Bắc mang đậm cảm hứng trữ tình – chính trị. Tố Hữu thể hiện đất nước qua nghĩa tình cách mạng, qua nỗi nhớ giữa người đi và người ở. Giọng thơ ngọt ngào, tha thiết như lời tâm tình.
Về nghệ thuật, Nguyễn Đình Thi sử dụng thể thơ tự do, câu thơ linh hoạt, ngôn ngữ cô đọng. Trong khi đó, Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát truyền thống giàu âm hưởng dân gian và tính nhạc.
Theo em, mỗi bài thơ đều có những đóng góp riêng cho nền thơ ca Việt Nam. Đất nước góp phần xây dựng hình tượng đất nước mang tầm vóc lớn lao, hiện đại và giàu chất sử thi. Còn Việt Bắc thể hiện vẻ đẹp của thơ ca cách mạng qua giọng thơ dân tộc, đậm đà nghĩa tình.
Qua việc so sánh hai bài thơ, em nhận thấy thơ ca kháng chiến Việt Nam vừa có sự thống nhất về cảm hứng yêu nước vừa rất phong phú trong phong cách nghệ thuật. Điều đó giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về văn học thời kì này.
Phần trình bày của em xin kết thúc tại đây. Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe!
3. Trao đổi, đánh giá