Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (trang 52) - Kết nối tri thức
Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (trang 52) - Kết nối tri thức
Với soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ trang 52 → trang 58 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.
Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (trang 52) - Kết nối tri thức
Mục tiêu của kiểu bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ là chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng so sánh, từ đó nêu được những giá trị đặc sắc, các yếu tố cách tân và đóng góp mới mė của từng tác giả, tác phẩm. Đây là kiểu bài đặt ra nhiều thử thách đối với người viết trong việc xác định cơ sở và các phương diện cần so sánh, đánh giá; việc lựa chọn cách triển khai nội dung phù hợp để so sánh, đánh giá thoả đáng về hai tác phẩm thơ.
Yêu cầu
- Giới thiệu ngắn gọn về hai tác phẩm thơ, nêu được những cơ sở lựa chọn hai tác phẩm để so sánh, đánh giá.
- Làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ được chọn để so sánh; có bằng chứng cụ thể, đa dạng từ hai tác phẩm.
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá thuyết phục về ý nghĩa và những đóng góp riêng, đặc sắc của mỗi tác phẩm thơ dựa trên các nội dung được so sánh.
- Nêu khái quát kết quả và ý nghĩa của việc so sánh đánh giá.
* Phân tích bài viết tham khảo:
Văn bản: Cảm hứng mùa thu trong Thu vịnh và Đây mùa thu tới
1. Giới thiệu hai bài thơ và định hướng so sánh
- Hai bài thơ: Thu Vịnh (Nguyễn Khuyến) và Đây mùa thu tới (Xuân Diệu).
- Định hướng: So sánh bức tranh thiên nhiên mùa thu ở hai bài thơ từ đó so sánh tâm trạng của hai nhà thơ.
2. Phân tích điểm tương đồng của hai bài thơ.
Gặp gỡ ở điểm là đều viết về cảnh thu, tình thu đẹp nhưng buồn.
3. Giới thiệu nét riêng và chỉ ra yếu tố tạo nên sự khác biệt của đối tượng so sánh
Nét riêng biệt là do sự khác biệt thế hệ của hai nhà thơ nên có những quan điểm thẩm mĩ khác nhau.
4. Phân tích nét riêng trong cảnh và tình của bài Thu Vịnh.
Đây là bức tranh thu ở làng quê Việt Nam, dân dã và yên bình. Tâm tư nhà thơ bộn bề với nỗi lo lắng về vận nước nhà.
5. Phân tích nét riêng của bài Đây Mùa Thu Tới trong sự đối sánh với bài Thu Vịnh.
Nỗi buồn trong thơ Xuân Diệu là nỗi buồn đầy trực cảm --> mùa thu đến và đi gợi cho Xuân Diệu nỗi lắng lo về sự chảy trôi của thời gian chứ không ngưng đọng cảnh như Nguyễn Khuyến.
6. Khẳng định vị trí, giá trị và sức hấp dẫn của hai bài thơ.
Một bài thơ mang đậm màu sắc cổ điển với phong vị ẩn dật, mộ bài thơ mang đậm nét hiện đại với cái tôi cá nhân mới mẻ.
7. Nêu ý kiến khẳng định về kết quả và ý nghĩa của việc so sánh.
Cả hai tâm hồn đều yêu tha thiết mùa thu và đều muốn hướng về tình yêu quê hương xứ sở.
Thực hiện các yêu cầu sau khi đọc bài viết tham khảo:
Câu 1 (trang 56 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Trong bài viết, tác giả đã dựa trên những cơ sở nào khi chọn 2 bài thơ để so sánh, đánh giá?
Trả lời
Cơ sở so sánh: Cảm hứng mùa thu; những cảm nhận và nỗi niềm chung và riêng,…
- Bài viết chọn so sánh Thu vịnh và Đây mùa thu tới dựa trên các cơ sở:
- Cả hai đều viết về mùa thu xứ Bắc.
- Đều là tác phẩm tiêu biểu của hai nhà thơ lớn: Nguyễn Khuyến và Xuân Diệu.
- Hai bài thơ vừa có nét tương đồng về cảm hứng mùa thu vừa có những khác biệt do thời đại, phong cách và quan điểm thẩm mĩ của mỗi tác giả.
Câu 2 (trang 56 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá như thế nào? Bạn có nhận xét gì về hiệu quả của cách triển khai đó?
Trả lời
Cách triển khai:
- Phân tích điểm tương đồng 2 bài thơ.
- Giới thiệu nét riêng và chỉ ra yếu tố tạo nên sự khác biệt của đối tượng so sánh.
- Phân tích nét riêng trong cảnh và tình Thu vịnh.
- Phân tích nét riêng trong Đây mùa thu tới.
- Khẳng định vị trí, giá trị và sức hấp dẫn của 2 bài thơ.
- Nêu ý kiến khẳng định.
- Bài viết triển khai theo trình tự:
+ Nêu điểm giống nhau về cảnh thu, tình thu.
+ Phân tích nguyên nhân của sự khác biệt.
+ Chỉ ra nét riêng trong cảnh thu và tình thu của từng bài thơ.
+ Cuối cùng khái quát giá trị của hai tác phẩm.
=> Cách triển khai này hợp lí, rõ ràng, giúp người đọc dễ nhận ra cả điểm tương đồng lẫn nét riêng độc đáo của mỗi bài thơ.
Câu 3 (trang 56 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Theo bạn, có thể có những cách trình bày nào khác về nội dung so sánh, đánh giá trong bài viết?
Trả lời
Triển khai theo cách khác:
- Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. Cách này dễ làm nhưng nhiều khi bị trùng lặp ý và mục đích so sánh không được làm nổi bật.
- Phân tích bài thơ thứ nhất theo các phương diện đã xác định, khi phân tích bài thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. Cách này cũng dễ thực hiện và tránh bị trùng lặp, thể hiện được ý so sánh, nhưng mạch so sánh khi trình bày bài thơ thứ nhất dễ bị chìm.
- Có thể trình bày các nội dung so sánh, đánh giá theo nhiều cách khác như:
+ So sánh theo từng phương diện: cảnh thu, tình thu, hình ảnh thơ, ngôn ngữ, giọng điệu,...
+ Phân tích riêng từng bài thơ rồi mới đối chiếu.
+ Trình bày bằng bảng hoặc sơ đồ so sánh để dễ theo dõi.
* Thực hành viết theo các bước:
1. Chuẩn bị viết
- Truớc hết, cần xác định được những cơ sở để triển khai các nội dung so sánh, gắn với đặc trung của thể loại thơ (đề tài, phong cách sáng tác, bút pháp nghệ thuật,..). Từ những cơ sở đã xác định, cần lựa chọn các bài thơ tiêu biểu với những điểm tương đồng và khác biệt có ý nghĩa.
- Phạm vi lựa chọn để so sánh, đánh giá rất mở và linh hoat. Hai bài thơ đó có thể của hai tác giả hoặc của một tác giả.
- Xác định được các phương diện cần so sánh: đối tượng cụ thể được miêu tả, thể hiện, cảm hứng, cái nhìn nghệ thuật, bút pháp,..
- Một số đề tài gợi ý:
+ So sánh, đánh giá các hình tượng: Hình tượng người lính trong Đồng chí (Chính Hữu) và Tây Tiến (Quang Dũng); Hình tượng người phụ nữ trong Tự tình ll (Hồ Xuân Hương) và Thuyền và biển (Xuân Quỳnh),…
2. Tìm ý, lập dàn ý
a. Tìm ý
Dựa vào yêu cầu của kiểu bài, định hướng từ bài viết tham khảo và để tài đã xác định, có thể nêu các câu hỏi sau để tìm ý:
- So sánh, đánh giá hai bài thơ dựa trên cơ sở nào? Việc xác định cơ sở để so sánh, đánh giá dựa trên nội dung (hiện thực đời sống, tư tưởng, tình cảm của tác giả,..) và hình thức nghệ thuật của các tác phẩm (thể loại, ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu, hình ảnh, chi tiết, thủ pháp nghệ thuật,..). Chẳng hạn, ở bài viết tham khảo, tác giả so sánh, đánh giá cảm hứng mùa thu trong hai bài thơ Thu Vịnh và Đây mùa thu tới ở cả hai bình diện nội dung miêu tả (cảnh tình thu) và cách thể hiện (chọn hình ảnh, không gian,.).
- Điểm tương đồng giữa hai tác phẩm thơ là gì? Ở bài viết tham khảo, tác giả đã làm rõ điểm tương đồng trong cảm hứng mùa thu của hai bài thơ là cảnh thu đẹp và tình thu buồn, tất cả được thể hiện bằng những hình ảnh chấm phá, giàu sức gợi.
- Đâu là điểm khác biệt giữa hai bài thơ? Ở bài viết tham khảo, tác giả đã phân tích sự khác biệt trong cảnh thu, tình thu của hai bài thơ; bút pháp miêu tả và quan điểm thẩm mĩ của hai tác giả trong hai thời đại.
- Yếu tố nào tạo nên những điểm tương đồng và khác biệt của hai bài thơ? Điểm tương đồng và khác biệt thường xuất phát từ những yếu tố thuộc về đặc trưng của thơ ca và phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà thơ, hoặc xu hướng và bút pháp thi ca của từng giai đoạn sáng tác. Ở bài viết tham khảo, tác giả đã phân tích, lí giải điểm tương đồng và khác biệt trong cảm hứng về cảnh thu, tình thu của hai bài thơ là sự đồng điệu của tâm hồn thi nhân trước vẻ đẹp của mùa thu đất nước; sự khác biệt là do hai nhà thơ thuộc hai thời đại, hai phong cách thơ.
- Đánh giá thế nào về giá trị của mỗi bài thơ? Qua so sánh, bài viết tham khảo đã khẳng định vị trí, giá trị và sức hấp dẫn của hai bài thơ viết về mùa thu đối với người đọc bao thế hệ cũng như ý nghĩa của việc cảm nhận hai bài thơ từ góc độ so sánh.
b. Lập dàn ý
Cần sắp xếp các ý đã tìm được thật hợp lí để có dàn ý hoàn chỉnh.
Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ và nêu cơ sở lựa chọn để so sánh, đánh giá.
Thân bài:
Có nhiều cách trình bày nội dung so sánh, đánh giá. Người viết cẩn linh hoạt trong việc lựa chọn cách trình bày phù hợp với hiểu biết và hứng thú của bản thân, điều này sẽ góp phần quan trọng vào thành công của bài viết. Có thể triển khai các nội dung so sánh, đánh giá theo những cách sau:
- Cách 1: Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. Cách này dễ làm nhưng nhiều khi bị trùng lặp ý và mục đích so sánh không được làm nổi bật.
- Cách 2: Phân tích bài thơ thứ nhất theo các phương diện đã xác định, khi phân tích bài thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. Cách này cũng dễ thực hiện và tránh bị trùng lặp, thể hiện được ý so sánh, nhưng mạch so sánh khi trình bày bài thơ thứ nhất dễ bị chìm.
- Cách 3: So sánh lần lượt các phương diện đã lựa chọn đối với hai bài thơ, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt; lí giải nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt đó; đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ các nội dung so sánh. Cách này làm nổi bật được tính chất so sánh nhưng dễ làm mờ tính liền mạch, chỉnh thể của mỗi bài thơ, đòi hỏi người viết phải có khả năng tư duy tổng hợp và lập luận chặt chẽ, có sự tinh nhạy trong phát hiện vấn để.
Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các bài thơ.
3. Viết
- Vận dụng kinh nghiệm đã tích luỹ được qua việc thực hành viết bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện ở bài học trước để viết Mở bài và Kết bài ngắn gọn, gây được ấn tượng đối với người đọc về ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; triển khai Thân bài theo các ý đã xác định và làm nổi bật được nội dung.
- Thể hiện khả năng cảm thụ văn học tinh tế trong quá trình phân tích, so sánh: lựa chọn dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu với từng nội dung so sánh, kết hợp với ý kiến lí giải, đánh giá; diễn đạt mạch lạc, sáng sủa, có cảm xúc.
- Có những sáng tạo riêng của cá nhân trong quá trình phân tích, đánh giá về những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ (qua những phát hiện sâu sắc hoặc qua cách diễn đạt độc đáo) để tăng sức thuyết phục và hấp dẫn cho bài viết.
Bài viết tham khảo
Bài viết tham khảo: So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ: Đây mùa thu tới - Xuân Diệu và Đất nước - Nguyễn Đình Thi.
Văn học từ muôn đời xưa, cho đến muôn đời sau bao giờ cũng viết về con người. Dù chỉ tả một làn mây dòng suối, cành lá, tiếng chim, thì cũng nhằm nói về con người. Cho nên thiên nhiên trong văn học là những bức tranh tâm trạng. Người buồn thì cảnh buồn, người vui thì cảnh vui. Qua hai bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Đất nước của Nguyễn Đình Thi, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.
Mùa thu từ bao đời nay và sẽ mãi mãi là nguồn thi hứng, là đề tài hấp dẫn đối với các thi nhân. Các nhà thơ nổi tiếng thế giới cũng như Việt Nam như Huy-gô, Rim-bô, Véc-len, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà đều đã có những bài thơ rất đặc sắc dành cho mùa thu. Nhưng không vì thế mà thơ viết về mùa thu trở nên mòn sáo, đơn điệu. Bởi cảnh thu thời nào cũng vậy, nhưng lòng người thì mỗi thời mỗi khác. Vì thế cảnh sắc mùa thu trong mỗi bài thơ đều có những vẻ đẹp riêng độc đáo. Chính trạng thái cảm xúc của thi nhân đã quy định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
Bài Đây mùa thu tới là một bài thơ hay về mùa thu của Xuân Diệu trước cách mạng. Bài Đất nước (1948-1955) của Nguyễn Đình Thi không phải là bài thơ viết về mùa thu, nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu. Hai bài thơ viết trong hai giai đoạn lịch sử khác nhau, thể hiện hai trạng thái cảm xúc khác nhau của nhà thơ trước mùa thu.
Cảnh sắc mùa thu trong bài Đây mùa thu tới thấm một nỗi buồn. Đó là cái buồn muôn thuở, nhưng cũng là cái buồn của thời đại, cái buồn của riêng “thơ mới”. Buồn vì cái lạnh len lỏi đâu đây gợi nỗi cô đơn, buồn vì sự chia lìa từ hoa cỏ, chim muông đến con người. Buồn vì một nỗi nhớ nhung ngẩn ngơ phảng phất trong không gian và trong lòng người. (Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rặng liễu buồn như những cô gái xoã tóc chịu tang, cùng hàng ngàn dòng lệ hàng nối hàng tuôn rơi. Các khổ thơ tiếp theo tác giả tái hiện cảnh hoa, lá rụng, cành cây khô gầy, vầng trăng bơ vơ. Sương mờ không khí trời u uất... tất cả những hình ảnh ấy gợi lên sự chia ly, tàn tạ, phai nhạt làm nổi rõ nỗi buồn cô đơn).
Cảnh thu buồn hiu hắt bi thương nhưng vẫn có cái gì đó dịu nhẹ, trẻ trung và rất đẹp. Bởi cảnh thu ngoài việc được so sánh với một hình ảnh độc đáo, còn được Xuân Diệu miêu tả với vẻ đẹp thơ mộng duyên dáng, tươi Bằng với tấm “áo mơ phai dệt lá vàng” vừa thực vừa ảo. Sắc vàng mùa thu đã làm sáng cả không gian.
Như vậy mùa thu bên cạnh cái vẻ đìu hiu buồn, một cái buồn rất đẹp của cảnh vật, vẫn chứa đựng bên trong một sức sống trẻ trung. Ấy là cái chất trẻ trung được phát hiện bằng con mắt “xanh non” của tác giả là cái sức sống của tuổi trẻ và tình yêu xốn xao trong cảnh vật.
Cảnh thu rất đẹp mà buồn vì lòng người lúc ấy còn buồn bã. Nỗi buồn của Xuân Diệu cũng là nỗi buồn của cả một thế hệ trí thức tiểu tư sản đương thời “yêu đời nhưng đau đời” (Huy Cận) chưa tìm được lối ra. Nỗi buồn ấy chính là tấm lòng thiết tha yêu đời, thiết tha giao cảm với đời.
Đang trong tâm trạng ấy cho nên nhà thơ rất nhạy cảm trước khung cảnh đất trời chuyển vào thu:
Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Câu thơ cất lên như một tiếng reo khẽ, vồ vập, khi chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của mùa thu. Phải có tấm lòng yêu đời thì giữa cảnh thu buồn bã, nhà thơ mới có thể đón nhận được một niềm vui nho nhỏ như thế. Sự nhạy cảm của hồn thơ Xuân Diệu còn được thể hiện qua cách cảm nhận của mùa thu. Nếu trong phần mở đầu, tác giả phát hiện cảnh thu bằng thị giác để tái hiện sắc thu thì đến phần giữa bài thơ tác giả đã thâm nhập vào bên trong cảnh vật để cảm nhận tinh tế bằng cảm giác của mình: Cành lá run rẩy, sắc lá đổi màu, nhành cây ớn lạnh đến tận xương khô, rét mướt luồn trong gió. Cuối cùng nhà thơ gửi gắm tâm trạng của mình qua nỗi lòng của người thiếu nữ. “Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”, một nỗi nhớ thương ngơ ngác mặc dù cô thiếu nữ không nói, nhưng rõ ràng đó là tư thế suy tư của người muốn đón nhận, của tâm trạng đang hướng về cuộc đời.
Tóm lại: cảnh thu, lòng người trước mùa thu có buồn bã cô đơn, nhưng không quá tuyệt vọng mà vẫn tươi trẻ. Toát lên từ toàn bộ bài thơ cảnh thu là vẻ đẹp của một nỗi buồn. Đó là nỗi buồn đầy cảm xúc của cái tôi cô đơn biểu hiện một niềm yêu đời, khát khao giao cảm với đời của nhà thơ Xuân Diệu.
Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi là bài thơ về “Đất nước rũ bùn đứng dậy sáng loà” qua cuộc kháng chiến 9 năm (1946-1954) nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu. Mở đầu là hình ảnh mùa thu “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, “Gió thổi mùa thu hương cốm mới”. Đó là cảnh sắc thân thuộc của mùa thu Việt Nam muôn đời. Cảnh thu trong sáng, vui tươi. Đoạn thơ tiếp theo, tác giả khắc hoạ cảnh thu Hà Nội ra đi vì nghĩa lớn. Đó là cảnh thu với vẻ đẹp thơ mộng mà xao xác buồn, buồn vì tưởng như thiếu hẳn bóng người. Buồn vì niềm bâng khuâng lưu luyến của sự chia ly “Người ra đi đầu không ngoảnh lại” nhưng thực ra thì chẳng muốn rời:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Còn mùa thu hiện tại là mùa thu sau Cách mạng tháng Tám mùa thu ở chiến khu Việt Bắc, lúc này đang là chiến khu tự do, căn cứ địa của kháng chiến chống Pháp, nơi Bác Hồ, Chính phủ kháng chiến đang điều khiển cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã đến với mùa thu này bằng một niềm vui tràn ngập, niềm vui của người tự thấy mình được tự do, dân tộc được tự do, ít ra là ở chiến khu này. Đang trong tâm trạng vui, nên tác giả thấy cảnh thu hiện lên với vẻ đẹp tươi sáng, đầy sức sống, đầy âm thanh màu sắc rộn rã, tươi vui. Bầu trời như thay áo mới, cảnh vật như hồi sinh, những âm thanh của cảnh vật và cuộc sống con người cũng ríu ran ríu rít đầy niềm vui.
Và không gian mùa thu như trải dài, mở rộng theo những con đường, dòng sông, đồng lúa, cánh rừng trùng điệp của đất nước.
Cảm hứng của Nguyễn Đình Thi trong bài Đất nước là cảm hứng tự hào làm chủ của một nghệ sĩ đang tham gia trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc độc lập tự do. Trong đoạn thơ nói về mùa thu Hà Nội 1946, tác giả có thể hiện tâm trạng buồn nhưng đó là nỗi buồn của một người tha thiết yêu quê hương mà phải tạm biệt quê hương lên đường vì nghĩa lớn. Nỗi buồn này khác nỗi buồn của Xuân Diệu.
Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ vẫn là niềm vui, niềm tự hào về đất nước giang sơn gấm vóc, về độc lập chủ quyền vì vậy đoạn thơ viết về mùa thu chiến khu Việt Bắc vang lên sang sảng tự hào đầy kiêu hãnh.
Cùng viết về mùa thu mà Xuân Diệu chỉ thấy một mùa thu rất đẹp mà rất buồn. Còn Nguyễn Đình Thi lại tiếp nhận một mùa thu trong trẻo, đầy âm thanh, màu sắc, đầy niềm vui, sức sống của cảnh vật và con người. Điều đó, xét cho cùng có nguyên nhân thời đại chi phối hồn thơ. Chính cảm xúc về thời đại đã quy định cảm hứng, qui định tình thu của nhà thơ và từ cảm hứng, tình thơ của nhà thơ lại qui định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
Trước cách mạng, Xuân Diệu sống trong cảnh ngộ của người dân nô lệ. Nỗi buồn của người dân mất nước đã tạo nên cách nhìn, cách cảm của thi nhân trước mùa thu. Từ sau cách mạng Xuân Diệu đã đến với đất nước bằng niềm vui, niềm tự hào nên cảnh thu cũng đã thay đổi.
Ba năm qua nay lại mùa thu tới
Mỗi lần thu tới lại mùa thu tới
Thu từ nay không thu thảm thu sầu
Mà thu sướng nhuộm màu xuân mát mát
Lá biếc xanh xanh
Trời thu bát ngát
Da tươi thịt thắm
Nở lại cùng sương
Ảnh mây bay như múa khúc nghê thường
Nắng hạ giọng nói những điều dịu sáng.
Còn Nguyễn Đình Thi viết bài Đất nước sau cách mạng lúc nhà thơ đã là một người dân tự do, cùng nhân dân làm chủ đất nước. Thời đại mới, đã tạo nên cảm hứng mới cho nhà thơ. Vì vậy, cảnh thu trong cách nhìn, cánh cảm nhận của nhà thơ trở nên trong trẻo, tươi sáng, tràn đầy sức sống niềm vui.
Trong dòng chảy thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, hình tượng người lính hiện lên với nhiều sắc thái vừa chân thực vừa giàu vẻ đẹp lí tưởng. Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu là hai thi phẩm tiêu biểu góp phần khắc họa sâu sắc hình tượng ấy. Cùng viết về người lính trong những năm đầu kháng chiến, song mỗi tác phẩm lại mang một cách nhìn và giọng điệu riêng. Chính vì vậy, việc đặt hai bài thơ trong thế đối sánh không chỉ giúp nhận ra những điểm gặp gỡ mà còn làm nổi bật nét độc đáo trong phong cách và tư tưởng nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
Trước hết, điểm gặp gỡ dễ nhận thấy giữa hai bài thơ nằm ở cảm hứng chung về người lính cách mạng. Dù trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, người lính trong cả Đồng chí và Tây Tiến đều hiện lên với tinh thần kiên cường, ý chí vượt khó và sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Trong Đồng chí, hình ảnh người lính được khắc họa qua những chi tiết rất thực:
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày”.
Còn trong Tây Tiến, Quang Dũng gợi lên những chặng đường hành quân gian nan:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”.
Dù khác nhau về cách biểu hiện, cả hai bài thơ đều cho thấy người lính phải đối diện với muôn vàn thử thách, nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, vẻ đẹp phẩm chất lại càng được tỏa sáng.
Không chỉ dừng lại ở ý chí chiến đấu, cả hai bài thơ còn gặp nhau ở việc khắc họa đời sống tình cảm sâu sắc của người lính. Trong Đồng chí, tình đồng đội được thể hiện trực tiếp và xúc động:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.
Câu thơ “Đồng chí!” vang lên như một tiếng gọi thiêng liêng, kết tinh tình cảm gắn bó giữa những con người cùng chung lí tưởng. Trong khi đó, Tây Tiến không gọi tên trực tiếp nhưng vẫn gợi ra sự gắn bó qua những hành trình chung, những hi sinh chung:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.
Đó không chỉ là sự mất mát mà còn là minh chứng cho tình đồng đội sâu nặng. Như vậy, cả hai bài thơ đều khẳng định sức mạnh của tình người trong chiến tranh, dù cách biểu hiện có khác nhau.
Tuy nhiên, khi đi sâu vào từng tác phẩm, có thể nhận ra những khác biệt rõ nét trong cách xây dựng hình tượng người lính. Ở Đồng chí, người lính hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc, chân thực, mang đậm dấu ấn người nông dân:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.
Họ là những con người bình dị, bước vào chiến tranh với tất cả những gì vốn có của đời sống thường nhật. Ngược lại, trong Tây Tiến, người lính mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Dù trong gian khổ, họ vẫn giữ được tâm hồn mộng mơ, tinh tế. Ngay cả khi đối diện với cái chết, họ vẫn hiện lên trong vẻ đẹp bi tráng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Sự khác biệt này phản ánh hai cách nhìn nghệ thuật: một bên thiên về hiện thực đời sống, một bên thiên về lí tưởng hóa.
Cùng với đó, sự khác biệt còn thể hiện rõ ở nghệ thuật biểu hiện và giọng điệu thơ. Đồng chí sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời nói thường ngày, tạo nên giọng điệu trầm lắng, chân thành. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” vừa thực vừa lãng mạn, là biểu tượng đẹp cho tình đồng đội và niềm tin. Trong khi đó, Tây Tiến lại giàu hình ảnh, nhạc điệu linh hoạt, sử dụng nhiều từ láy và phép tu từ: “Khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”… tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Giọng điệu bài thơ mang tính bi tráng, hào hùng xen lẫn lãng mạn, góp phần tôn vinh vẻ đẹp của người lính. Sự khác biệt này xuất phát từ phong cách riêng: Chính Hữu thiên về giản dị, Quang Dũng thiên về tài hoa, bay bổng.
Từ những phương diện so sánh trên, có thể thấy mỗi bài thơ đều có giá trị và đóng góp riêng. Đồng chí đã khắc họa thành công hình ảnh người lính nông dân với tình đồng đội sâu sắc, góp phần làm nổi bật sức mạnh tinh thần trong chiến tranh. Tây Tiến lại mở ra một không gian nghệ thuật giàu chất lãng mạn, khắc họa người lính với vẻ đẹp hào hoa, bi tráng. Hai tác phẩm không đối lập mà bổ sung cho nhau, cùng làm phong phú hình tượng người lính trong văn học.
Có thể nói, việc so sánh Tây Tiến và Đồng chí giúp nhận ra vẻ đẹp đa diện của người lính Việt Nam trong kháng chiến. Một bên là vẻ đẹp giản dị, chân thực; một bên là vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn — tất cả hòa quyện để tạo nên bức chân dung trọn vẹn về con người thời đại. Hai bài thơ, mỗi bài một phong cách, nhưng đều gặp nhau ở tình yêu đất nước và sự trân trọng con người, vì thế vẫn luôn có sức sống bền bỉ trong lòng người đọc hôm nay.
So sánh, đánh giá bút pháp và cảm hứng nghệ thuật về đất nước trong Đất nước và Việt Bắc
Trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, hình tượng đất nước luôn là nguồn cảm hứng lớn lao và thiêng liêng. Mỗi nhà thơ, bằng trải nghiệm lịch sử và phong cách nghệ thuật riêng, đã đem đến những cách cảm nhận độc đáo về Tổ quốc. Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Việt Bắc của Tố Hữu là hai thi phẩm tiêu biểu viết về đất nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đặt hai bài thơ trong tương quan so sánh giúp người đọc thấy rõ những nét gặp gỡ trong cảm hứng yêu nước cũng như nét riêng trong bút pháp nghệ thuật của mỗi tác giả.
Trước hết, cả hai bài thơ đều gặp nhau ở cảm hứng ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong kháng chiến. Trong Đất nước, Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước qua những đổi thay lớn lao của dân tộc từ đau thương đến quật khởi:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều”
Đất nước hiện lên vừa đau thương vừa anh dũng. Từ những mất mát, nhân dân Việt Nam đã đứng dậy chiến đấu với sức mạnh kiên cường:
“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”
Còn trong Việt Bắc, Tố Hữu tái hiện đất nước qua không khí kháng chiến sôi động và nghĩa tình cách mạng sâu nặng. Đó là hình ảnh đoàn quân ra trận hào hùng:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung.”
Đất nước trong thơ Tố Hữu không chỉ hiện lên qua cuộc chiến đấu mà còn gắn bó với nhân dân, với căn cứ cách mạng và nghĩa tình quân dân sâu nặng.
Dù cùng viết về đất nước thời kháng chiến, cảm hứng nghệ thuật của hai bài thơ vẫn có những nét khác biệt rõ rệt. Trong Đất nước, Nguyễn Đình Thi nhìn đất nước từ chiều sâu lịch sử và cảm xúc cá nhân. Cảm hứng thơ mang màu sắc suy tư, giàu tính khái quát. Hình tượng đất nước được cảm nhận trong sự vận động lớn lao của dân tộc, từ mùa thu đau thương của Hà Nội năm xưa đến mùa thu cách mạng đầy tự hào:
“Mùa thu nay khác rồi.”
Niềm vui, niềm tự hào về đất nước độc lập được thể hiện bằng giọng thơ mạnh mẽ, giàu chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Trong khi đó, Việt Bắc của Tố Hữu lại mang cảm hứng trữ tình – chính trị đậm nét. Đất nước hiện lên gần gũi qua kỉ niệm kháng chiến, qua tình cảm quân dân, nghĩa tình cách mạng. Bài thơ không thiên về suy tưởng mà nghiêng về hồi tưởng và đối đáp ân tình:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.”
Nếu Nguyễn Đình Thi khắc họa đất nước bằng những hình ảnh lớn lao, hùng tráng thì Tố Hữu lại làm nổi bật vẻ đẹp của đất nước qua tình người và chất dân tộc đậm đà.
Bút pháp nghệ thuật của hai nhà thơ cũng có nhiều điểm khác biệt. Nguyễn Đình Thi sử dụng thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt, ngôn ngữ cô đọng và giàu tính biểu tượng. Hình ảnh thơ vừa chân thực vừa mang ý nghĩa khái quát lớn lao. Giọng thơ khi tha thiết, khi hào sảng, thể hiện chiều sâu suy tưởng của một nghệ sĩ giàu chất trí tuệ.
Ngược lại, Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát truyền thống với âm điệu ngọt ngào, tha thiết. Ngôn ngữ thơ giàu tính dân gian, gần gũi như lời ca dao, dân ca. Bài thơ đậm tính nhạc và giàu cảm xúc trữ tình. Nếu Đất nước gây ấn tượng bởi vẻ đẹp hùng tráng và hiện đại thì Việt Bắc chinh phục người đọc bằng sự đằm thắm, ân tình.
Những điểm tương đồng giữa hai bài thơ xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử chung của dân tộc trong thời kì kháng chiến chống Pháp và cảm hứng yêu nước của các nhà thơ cách mạng. Còn sự khác biệt chủ yếu do phong cách nghệ thuật và cái nhìn riêng của mỗi tác giả. Nguyễn Đình Thi thiên về cảm hứng sử thi và chiều sâu triết lí, còn Tố Hữu nổi bật với chất trữ tình chính trị và giọng thơ dân tộc.
So sánh Đất nước và Việt Bắc, người đọc càng cảm nhận rõ vẻ đẹp phong phú của thơ ca kháng chiến Việt Nam. Mỗi bài thơ là một tiếng nói riêng nhưng đều gặp nhau ở tình yêu tha thiết dành cho đất nước và niềm tin vào sức mạnh dân tộc. Hai tác phẩm không chỉ góp phần làm giàu hình tượng đất nước trong văn học mà còn để lại những rung động sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc hôm nay.
4. Chỉnh sửa, hoàn thiện
Đọc kĩ bài viết, đối chiếu với yêu cầu của kiểu bài và dàn ý để có hướng chỉnh sửa. Ngoài việc soát lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (từ ngữ, câu văn, đoạn văn,…), cần tập trung vào việc làm rõ cơ sở và các phương diện so sánh khi triển khai nội dung bài viết.