Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 12 trang 26 - Kết nối tri thức

1,149 từ~6 phút đọc

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 12 trang 26 - Kết nối tri thức

Với soạn bài Thực hành tiếng Việt: Biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ: đặc điểm và tác dụng trang 26, 27 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 12 trang 26 - Kết nối tri thức

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Xác định biện pháp tu từ nói mỉa và phân tích hiệu quả của nó ở từng trường hợp sau đây:

a.Công chúng luôn luôn vỗ tay hoan hô Xuân, còn trên khán đài, đức vua Xiêm đã lộ mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo ở cái có hàng triệu con voi.

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

b.Trên mép ông, ông đã bao công trình mới cấy được từng ấy râu […] Thì sau hết, những lông tơ nó cũng dài ra, và trông rõ hơn. Và đến bây giờ, đứng ở hai bên miệng ông, nó thành hình hai cái dấu chua nghĩa (…)

(Nguyễn Công Hoan, Đồng hào có ma)

Trả lời

a.Công chúng luôn luôn vỗ tay hoan hô Xuân, còn trên khán đài, đức vua Xiêm đã lộ mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo ở cái có hàng triệu con voi

=> mỉa mai sự lố bịch của ông vua.

b.Trên mép ông, ông đã bao công trình mới cấy được từng ấy râu […] Thì sau hết, những lông tơ nó cũng dài ra, và trông rõ hơn. Và đến bây giờ, đứng ở hai bên miệng ông, nó thành hình hai cái dấu chua nghĩa (…)

=> Mỉa mai cái thói ra vẻ, tạo nét của ông quan lớn.

a.

- Biện pháp nói mỉa: “đức vua Xiêm”, “mặt rồng”, “thiên tử thế thiên hành đạo” → cách gọi mang tính tôn xưng nhưng thực chất là mỉa mai.

- Hiệu quả:

+ Làm nổi bật sự lố bịch, giả tạo của nhân vật Xuân.

+ Tạo giọng điệu châm biếm, đả kích xã hội sính danh hão.

+ Góp phần thể hiện phong cách trào phúng sắc bén của Vũ Trọng Phụng.

b.

- Biện pháp nói mỉa: “bao công trình”, “cấy được từng ấy râu”, “hai cái dấu chua nghĩa” → cách nói phóng đại, trang trọng hóa cái tầm thường để mỉa mai.

- Hiệu quả:

+ Làm nổi bật sự buồn cười, lố lăng của nhân vật.

+ Châm biếm thói khoe khoang, làm dáng, coi cái nhỏ nhặt là quan trọng.

+ Tạo tiếng cười hài hước, nhẹ nhàng mà sâu cay.

Câu 2 (trang 26, 27 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Xác định nghịch ngữ trong các câu có hàm ý mỉa mai sau và cho biết căn cứ để thực hiện điều này:

a.Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người, nhẩy xuống xe, lên xe hơi.

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

b.Bước đường công danh của ông cũng bắt đầu từ chức lí trưởng vượt qua những bậc phó tổng, chánh tổng, rồi cơm rượu, bò lợn rồi quan phủ, quan tỉnh hợp sức với nhau đưa ông lên chức nghị viên.

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

Trả lời:

a.Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người, nhẩy xuống xe, lên xe hơi.

=> Xuân Tóc Đỏ chẳng phải một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, mà hắn chính là một tên ranh ma, mưu tình và khôn lỏi.

b.Bước đường công danh của ông cũng bắt đầu từ chức lí trưởng vượt qua những bậc phó tổng, chánh tổng, rồi cơm rượu, bò lợn rồi quan phủ, quan tỉnh hợp sức với nhau đưa ông lên chức nghị viên.

=> Căn cứ: Đang liệt kê những cấp bậc quan chức: phó tổng, chánh tổng, quan phủ, quan tỉnh lại xuất hiện danh từ liên quan tới thức ăn: cơm rượu, bò lợn  => ý chỉ hành động đút lót cho quan để thuận lời trên “bước đường công danh”.

a. Nghịch ngữ: “bậc vĩ nhân nhũn nhặn” ↔ “giơ quả đấm chào loài người”.

- Căn cứ xác định:

+ “vĩ nhân”, “nhũn nhặn” gợi sự cao quý, khiêm tốn.

+ “giơ quả đấm” là hành động thô bạo, kệch cỡm.

+ Hai yếu tố trái ngược đặt cạnh nhau → tạo nghịch ngữ mang tính mỉa mai.

b. Nghịch ngữ: “bước đường công danh” ↔ “cơm rượu, bò lợn”, “được đưa lên chức”.

- Căn cứ xác định:

+ “công danh” vốn chỉ con đường thăng tiến chính đáng.

+ Thực tế lại là nhờ đút lót, chạy chọt (“cơm rượu, bò lợn”).

+ Sự đối lập giữa danh nghĩa và bản chất → tạo nghịch ngữ mỉa mai.

Câu 3 (trang 27 sgk Ngữ văn 12 Tập 1) Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng nghịch ngữ trong các trường hợp sau:

a. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền.

(Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà)

b.Trong lúc ấy, ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hóa ấy tự hồ bật ở miệng một vĩ nhân mà ra…

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Trả lời:

a.

=> Nghịch ngữ trong ngữ cảnh này muốn lột tả cái hung tợn, nguy hiểm của ghềnh thác sông Đà

b.

=> Nghịch ngữ trong ngữ cảnh trên mang ý mỉa mai những con người thời Pháp thuộc, bị dắt mũi bởi một kẻ ranh ma, khôn vặt.

a. Nghịch ngữ: “ầm ầm” ↔ “quạnh hiu”.

- Hiệu quả nghệ thuật:

+ Tạo ấn tượng mạnh về không gian sông Đà vừa dữ dội vừa hoang vắng.

+ Làm nổi bật tính chất nguy hiểm, bí ẩn của dòng sông.

+ Góp phần khắc họa con sông như một thế lực sống động, có ý thức “mai phục”, “vồ lấy thuyền”.

b. Nghịch ngữ: “cấp tiến với xã hội” ↔ “bảo thủ với gia đình”.

- Hiệu quả nghệ thuật:

+ Làm nổi bật sự mâu thuẫn trong tính cách nhân vật.

+ Tạo tiếng cười châm biếm về kiểu người giả tiến bộ, hình thức.

+ Góp phần phê phán xã hội đương thời đầy giả dối, lố bịch.