Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện - Kết nối tri thức

6,479 từ~33 phút đọc

Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện - Kết nối tri thức

Với soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện trang 27 → trang 34 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.

Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện - Kết nối tri thức

So sánh hai tác phẩm văn học nhằm làm rõ một quy luật chung nào đó hay để nhìn nhận sâu hơn giá trị của từng tác phẩm là công việc quen thuộc của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Trong nhà trường phổ thông, điều đó cũng cần được thực hiện ở mức độ phù hợp vì nó có thể giúp bạn rèn luyện khả năng liên hệ, kết nối, huy động kiến thức, thiết lập cái nhìn tổng quan khi đi vào khám phá thế giới tác phẩm văn học. Ở bài học này, trước hết, bạn sẽ được làm quen với công việc nêu trên qua việc viết một bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

* Yêu cầu:

- Nêu được mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

- Trình bày được các thông tin khái quát về hai tác phẩm truyện.

- Làm rõ được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm truyện xét trên một số phương diện nội dung và hình thức cụ thể theo mục đích và phạm vi đã xác định.

- Rút ra được những nhận xét, đánh giá cần thiết, phù hợp về hai tác phẩm truyện căn cứ vào kết quả so sánh.

- Nêu được ý nghĩa của việc đánh giá hai tác phẩm truyện thông qua việc so sánh.

* Phân tích bài viết tham khảo:

1. Nêu cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm: viết về cùng đề tài, tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể.

Viết về cùng đề tài, tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể.

2. Nêu mục đích của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm

Sự thống nhất trong cảm hứng của hai nhà thơ, đồng thời thể hiện được những phong cách, dấu ấn riêng của hai nhà thơ

3. Trình bày luận điểm khái quát về nét chung của hai tác phẩm.

Đều viết vào thời gian kháng chiến chống Mỹ.

4. Trình bày những thông tin cần thiết về từng tác phẩm được so sánh: xuất xứ, bối cảnh câu chuyện, cốt truyện, nhân vật,…

- Xuất xứ: Mảnh trăng cuối rừng thuộc tập Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu; truyện Những đứa con trong gia đình thuộc Truyện và kí của Nguyễn Thi.

- Bối cảnh: hai truyện đều viết trong bối cảnh chống đế quốc Mỹ

- Cốt truyện: Mảnh trăng cuối rừng kể về câu chuyện tình yêu trong thời chiến còn Những đứa con trong gia đình kể về câu chuyện tình cảm gia đình.

5. Thông tin khái quát về Mảnh trăng cuối rừng.

Mảnh trăng cuối rừng thuộc tập Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu; viết trong bối cảnh chống đế quốc Mỹ; Mảnh trăng cuối rừng kể về câu chuyện tình yêu trong thời chiến.

6. Thông tin khái quát về Những đứa con trong gia đình.

Truyện Những đứa con trong gia đình thuộc Truyện và kí của Nguyễn Thi; viết trong bối cảnh chống đế quốc Mỹ; Những đứa con trong gia đình kể về câu chuyện tình cảm gia đình.

7. Phân tích cụ thể điểm tương đồng giữa hai tác phẩm: tính chất của sự miêu tả và cảm hứng sáng tác.

Đều gắng làm sáng tỏ chủ nghĩa anh hùng lên đời sống tinh thần của nhân dân trong thời chiến.

8. Phân tích nét riêng trong cách viết của từng tác phẩm - một vấn đề quan trọng cho thấy sự đa dạng của văn xuôi cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975.

Phong cách thời đại chi phối cách viết của tác giả, nhưng mỗi người đều gửi  gắm trong đó những quan niệm, suy tư riêng.

9. Kết luận chung về giá trị của các tác phẩm và gợi mở cách nhìn nhận phù hợp về văn học của một giai đoạn đã qua.

Thời điểm đó, những tác phẩm đều mang những dấu ấn thời đại vô cùng rõ nét.

Thực hành các yêu cầu sau khi đọc bài viết tham khảo:

Câu 1 (trang 32 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Cơ sở của việc lựa chọn so sánh hai tác phẩm Mảnh trăng cuối rừngNhững đứa con trong gia đình là gì?

Trả lời:

Cơ sở: Viết về cùng đề tài, tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể.

- Cả hai đều là truyện ngắn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 viết về đề tài chiến tranh.

- Đều được sáng tác trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt vào cuối những năm 60 của thế kỉ XX.

- Hai tác phẩm cùng thể hiện cảm hứng chung của văn học thời chiến: ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, lạc quan của con người Việt Nam.

- Đồng thời, đây cũng là hai tác phẩm tiêu biểu cho phong cách riêng của hai nhà văn Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Thi.

Câu 2 (trang 32 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Tác giả bài viết đã xác định mục đích so sánh hai tác phẩm như thế nào?

Trả lời:

Mục đích: Sự thống nhất trong cảm hứng của hai nhà thơ, đồng thời thể hiện được những phong cách, dấu ấn riêng của hai nhà thơ

- Làm rõ sự thống nhất trong cảm hứng sáng tác của các nhà văn cách mạng khi viết về đề tài chiến tranh.

- Chỉ ra nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật riêng của từng tác giả qua mỗi tác phẩm.

- Qua đó khẳng định sự đa dạng, phong phú của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.

Câu 3 (trang 32 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Các phương diện cơ bản nào của hai tác phẩm đã được đưa ra so sánh?

Trả lời:

Các phương diện: xuất xứ, bối cảnh câu chuyện, cốt truyện, nhân vật,…

- Hoàn cảnh ra đời và bối cảnh chiến tranh.

- Nội dung tư tưởng: chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu của con người Việt Nam.

- Hình tượng nhân vật và vẻ đẹp tâm hồn của họ.

- Chất sử thi, cảm hứng lãng mạn và chất thơ trong tác phẩm.

- Nghệ thuật xây dựng truyện:

+ Mảnh trăng cuối rừng: chú trọng tình huống truyện, tính luận đề, màu sắc chính luận.

+ Những đứa con trong gia đình: giàu chi tiết hiện thực, sử dụng dòng ý thức, kết cấu hồi ức, đậm màu sắc Nam Bộ.

- Phong cách nghệ thuật riêng của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Thi.

Câu 4 (trang 32 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Đánh giá nào về đặc điểm, giá trị của từng tác phẩm được nảy sinh trên cơ sở so sánh?

Trả lời:

Những tác phẩm đều mang những dấu ấn thời đại vô cùng rõ nét.

- Mảnh trăng cuối rừng được đánh giá là tác phẩm giàu chất lãng mạn, có tính biểu tượng, chú trọng xây dựng tình huống và khai thác vẻ đẹp tinh thần, niềm tin của con người trong chiến tranh.

- Những đứa con trong gia đình được đánh giá là tác phẩm giàu tính hiện thực, đậm màu sắc Nam Bộ, khắc họa sâu sắc truyền thống gia đình gắn với truyền thống dân tộc.

- Cả hai tác phẩm đều mang đậm cảm hứng sử thi và vẻ đẹp của văn học thời chiến, đồng thời thể hiện rõ cá tính sáng tạo riêng của mỗi nhà văn.

- Qua so sánh, bài viết khẳng định giá trị bền vững và vẻ đẹp riêng của văn học cách mạng Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

* Thực hành viết theo các bước

1. Chuẩn bị viết

- Ở bước đầu làm quen với kiểu bài viết này, nên chọn hai tác phẩm truyện mà bạn nhận thấy giữa chúng có những điểm chung và ít nhất một trong hai truyện đó bạn đã được học. Hai truyện có thể của cùng một tác giả hoặc của hai tác giả khác nhau, có thể ra đời trong cùng một thời kì hoặc trong hai thời kì cách biệt, có thể thuộc về một nền văn học hoặc thuộc về hai nền văn học có truyền thống riêng… Gợi ý một số tác phẩm truyện có thể làm thành đối tượng so sánh của bài viết: Hoàng tử bé của Ăng-toan đơ Xanh-tơ - Ê-xu-pe-ri (Antoine de Saint - Exupéry) và vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng và Thời tho ấu của Mác - xim Go - rơ - ki (Maksim Gorky), Chí Phèo và Lão Hạc của Nam Cao, Vợ Nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

Bạn cần xác định rõ mục đích so sánh của bài viết: Làm sáng tỏ một giá trị nào đó của từng tác phẩm truyện khi xem xét chúng trong tương quan rộng của lịch sử văn học và đời sống văn hóa. Khi xác lập cơ sở so sánh, cần quan tâm trả lời các câu hỏi:

- Hai tác phẩm có phải là những “mẫu” tiêu biểu, cho phép việc so sánh đạt được kết quả cần thiết hay không?

- Hai tác phẩm có những điểm gì khiến người đọc dễ liên hệ chúng với nhau?

- Bài viết có thể ưu tiên nhấn mạnh sự tương đồng hoặc chỉ tập trung nói về sự khác biệt giữa hai tác phẩm.

Dù theo định hướng nào, khi nói về sự tương đồng, vẫn cần đề cập sự khác biệt, ngược lại, khi bàn đến sự khác biệt, cần nói về sự tương đồng như một lí do khiến hai tác phẩm có thể được đưa ra so sánh với nhau.

2. Tìm ý, lập dàn ý

* Tìm ý

Có thể tự đặt ra các câu hỏi như sau để tìm ý:

- Vì sao khi đọc truyện này độc giả thường liên hệ đến truyện kia? (Xác lập cơ sở để so sánh hai tác phẩm truyện với nhau, giúp người viết có thể mở bài một cách thuận lợi).

- Sự tương đồng giữa hai truyện thể hiện trên những phương diện  chủ yếu nào? (Lựa chọn các phương diện chủ yếu cần so sánh ở hai tác phẩm.)

- Điều gì dẫn đến sự “gặp gỡ” đó giữa hai tác phẩm truyện? (Vừa đi sâu cắt nghĩa nguyên nhân của sự tương đồng, vừa tạo được sự gắn kết giữa các đoạn viết về từng sản phẩm.)

- Dù có những điểm tương đồng, sự khác biệt giữa hai truyện vẫn thể hiện rõ. Sự khác biệt đó là gì? (Tìm ra nét độc đáo của từng tác phẩm.)

- Việc so sánh đưa lại được những khám phá mới nào về từng tác phẩm? (Ý nghĩa của việc so sánh hai tác phẩm truyện với nhau.)

* Lập dàn ý

- Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm truyện được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá, nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này.

- Thân bài: Cần triển khai các ý:

+ Thông tin chung về từng sản phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,..

+ Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm truyện và nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng ấy.

+ Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy.

- Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh.

3. Viết bài

- Để làm sáng tỏ các luận điểm, cần chú ý khai thác bằng chứng từ những phương diện khác nhau của hai tác phẩm truyện, bao gồm: đề tài, chủ đề, cảm hứng, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu,… Khi trích dẫn văn bản truyện hay một bài phê bình, đánh giá nào đó về truyện, cần đảm bảo yêu cầu chính xác, khách quan.

- Tránh biến bài viết thành một văn bản mang tính chất lắp ghép máy móc, gồm hai “bài” nhỏ phân tích từng tác phẩm riêng biệt.

- Thường xuyên chú ý mạch lạc, liên kết của bài viết và thực hiện việc ngắt đoạn phù hợp để người đọc dễ theo dõi hệ thống luận điểm.

Bài viết tham khảo

So sánh hai đoạn kết truyện “Vợ nhặt” và “Vợ chồng A Phủ”

Tô Hoài và Kim Lân đều là một trong những tác giả tiêu biểu của văn xuôi thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Các tác phẩm của họ đều lấy cảm hứng từ cuộc sống hiện thực của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng tám. Hai tác phẩm “Vợ Nhặt” và “Vợ chồng A Phủ” tuy phản ánh số phận của hai người nông dân khác nhau nhưng đều mang một kết thúc mở. Nơi mà niềm hy sinh về cuộc sống mới tự do và hạnh phúc của họ được gửi gắm. Kết truyện không chỉ là những tình tiết khép lại câu chuyện mà còn là nơi mà các nhà văn thể hiện những quan niệm, tư tưởng và mở ra những con đường cho nhân vật của mình. Nếu kết thúc truyện Chí Phèo là sự giải thoát cho một kiếp người bị tha hóa bởi xã hội thì cái kết của "Vợ nhặt" và "Vợ chồng A Phủ" lại được nhà văn Kim Lân, Tô Hoài mở ra bằng một hướng đi mới cho những số phận đau khổ cho những con người trong hai tác phẩm đó.

Hai tác phẩm "Vợ nhặt" và "Vợ chồng A Phủ" là hai tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của hai tác giả. Nếu như Kim Lân viết về tình cảnh thê thảm, tang thương của những người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945 thì Tô Hoài lại viết về cuộc sống tủi nhục, tối tăm của những người nông dân nghèo vùng núi Tây Bắc. Tuy khác nhau về chủ đề và cách thức thể hiện nhưng cả hai tác phẩm đều có những nét tương đồng, cả hai truyện ngắn đều viết về cuộc sống và số phận của những người nông dân nghèo; đều thể hiện sự đồng cảm, trân trọng của nhà văn với số phận và vẻ đẹp của các nhân vật, điều này được thể hiện rõ nét qua phần kết của hai tác phẩm.

Truyện ngắn "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân được viết năm 1954 về cuộc sống của những người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhân vật chính của câu chuyện là Tràng - một người đàn ông nghèo khổ, xấu xí sống trong xóm Ngụ Cư. Trước sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của mọi người, Tràng bất ngờ có vợ ngay khi nạn đói đang hoành hành dữ dội nhất. Truyện kết thúc trong chi tiết bữa cơm thảm hại ngày đói của gia đình Tràng: "có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo" và tiếng tiếng trống thúc thuế dồn dập. Trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh những dòng người "ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm".

Kết thúc của Vợ nhặt được Kim Lân lấy cơ sở từ chính hiện thực cuộc sống của đất nước ta lúc bấy giờ. Bởi sau nạn đói năm 1945, cả đất nước ta đang chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền và tiên phong chính là phong trào đi phá kho thóc Nhật để chia cho dân nghèo. Những người nông dân cả đời chân lấm tay bùn, họ ít học, ít hiểu, thế những cái đói khát cùng cực đã giúp họ nhận rõ kẻ thù của mình, đó chính là thực dân Pháp và Phát xít Nhật. Trong khi thực dân Pháp thực hiện chính sách vơ vét của cải thì bọn phát xít Nhật lại bắt dân ta "nhổ cỏ trồng đay", đây cũng chính là nguyên nhân chính gây ra thảm họa nạn đói khủng khiếp 1945 cho dân tộc Việt Nam. Sống trong đói khát, trong cái chết rình rập nên những người nông dân đã ý thức được và tìm cách đấu tranh giành lấy sự sống. Và họ đến với cách mạng như một điều tất yếu, một lẽ đương nhiên. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không thể hiện rõ ràng rằng Tràng có đi theo "lá cờ đỏ" ấy không, nó chỉ mở ra một hướng liên tưởng cho người đọc. Thế nhưng phải chăng qua cái "kết thúc mở" ấy, nhà văn Kim Lân muốn cho người đọc hiểu rằng cuộc đời của các nhân vật trong câu chuyện của mình rồi sẽ thay đổi nếu như họ bắt gặp được ánh sáng Cách mạng? Cuộc đời của Tràng mở ra bằng ánh chiều tà chập choạng với những cảnh "đói sầm vì đói khát", thế nhưng khi kết thúc lại là ánh bình minh của người mới với hình ảnh của "lá cờ đỏ" kia. Tuy là một kết thúc mở nhưng nó đã gieo vào lòng chúng ta niềm tin mãnh liệt vào sự đổi đổi của Tràng, của gia đình Tràng, của hàng ngàn người dân nghèo khác.

Với "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài lại dẫn người đọc đến với cuộc sống của những người nông dân nghèo vùng Tây Bắc. Nhân vật chính trong truyện là Mị và A Phủ. Nếu như Mị là cô "con dâu gạt nợ" nhà thống lý Pá Tra, phải sống kiếp "con trâu, con ngựa", bị đày đọa cả thể xác lẫn tinh thần thì A Phủ trở thành người ở không công cho nhà thống lí chỉ vì đánh nhau với con quan. Hai con người đau khổ ấy gặp nhau, cảm thông, thấu hiểu cho nhau từ những giọt nước mắt và họ đã quyết định giải thoát cho nhau khỏi thân phận nô lệ.

Truyện kết thúc ở chi tiết Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và vụt chạy theo A Phủ để giải phóng chính mình. Sau đêm tình mùa xuân, Mị trở về với cuộc sống lầm lũi, cam chịu như trước kia. Trong một lần "thổi lửa hơ tay", Mị đã bắt gặp "một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A Phủ. Chính dòng nước mắt ấy đã làm cho Mị bừng tình, nhận thức được quyền sống của mỗi con người, nhận thức được sự độc ác của giai cấp thống trị. Vậy nên Mị đã "rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây" cắt đứt sợi dây trói cho A Phủ và thả A Phủ chạy thoát. Thế nhưng chỉ vài phút "đứng lặng trong bóng tối", Mị cũng "vụt chạy ra" theo A Phủ. Và rồi hai con người khốn khổ ấy "lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi". Sau này, hai người trở thành vợ chồng và dưới ánh sáng của cách mạng, họ cùng nhau chiến đấu bảo vệ quê hương.

Cái kết của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã cho chúng ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc giữa những con người khốn khổ, cho ta thấy được sức sống tiềm tàng của họ, nhận thực sâu sắc của họ về quyền sống, quyền được tự do và hạnh phúc cùng với đó là tinh thần đấu tranh với bọn địa chủ phong kiến. Nếu như trước đây, Mị sống "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", sống vô cảm, vô hồn thì giọt nước mắt của A Phủ đã đánh thức trong tâm hồn Mị ý thức về sự sống. Hành động cắt đứt dây trói giải thoát cho A Phủ của Mị cũng là sự giải thoát cho chính bản thân mình. Giọt nước mắt ấy đã đánh thức khao khát sống tự do, hạnh phúc của cô. Và rồi hai con người đau khổ của đất Hồng Ngài đã dẫn nhau "lẳng lặng" "lao chạy xuống dốc núi" trốn thoát khỏi những hủ tục phong kiến, những sự thống trị tàn bạo và dã man, đó là sự tự ý thức của họ về quyền sống, tự do của một con người.

Tuy hai nhà văn Kim Lân và Tô Hoài viết về hai đề tài khác nhau nhưng cách kết thúc trong hai truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" và "Vợ nhặt" lại có những điểm tương đồng. Đầu tiên đó là hai cái kết đều mở ra một tương lai mới tươi sáng và tự do cho người nông dân nghèo khổ. Cả hai nhà văn đều hướng những nhân vật của mình đến với ánh sáng của cách mạng với hy vọng chắc chắn rằng cách mạng sẽ giúp họ đổi đời. Tuy có nhiều điểm giống nhau nhưng Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ cũng có những điểm khác biệt rất rõ ràng. Nếu như Vợ nhặt là hình ảnh của những người nông dân phải sống trong đói nghèo, trong cái chết rình rập, họ thấy được tội ác của bọn phát xít thực dân để từ đó hình ảnh "lá cờ đỏ" cùng đoàn người đi "phá kho thóc Nhật" in đậm trong tâm trí họ, cho họ thấy được con đường thoát khỏi đói nghèo thì Vợ chồng A Phủ lại cho ta thấy sức sống tiềm tàng của những người nông dân, họ tự vùng lên để giải thoát cho chính mình.

Hai chi tiết, hai cái kết trong Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt là khác nhau nhưng ta thấy rõ được những tâm tư, những tình cảm, những giá trị nhân đạo mà cả Kim Lân và Tô Hoài đều hướng tới. Đó là lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc trước những số phận đau khổ bị đày đọa bởi đói nghèo, bởi giai cấp thống trị. Để từ đó hướng họ tới một tương lai tươi sáng hơn khi họ vùng lên dưới ánh sáng cách mạng.

Phân tích, đánh giá hai tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân) và Chí Phèo (Nam Cao)

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945, Vợ nhặt của Kim Lân và Chí Phèo của Nam Cao là hai tác phẩm tiêu biểu phản ánh sâu sắc số phận người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Cả hai đều khai thác những khía cạnh khác nhau của hiện thực tăm tối, đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Việc đặt hai tác phẩm trong quan hệ so sánh không chỉ giúp làm rõ những điểm tương đồng mà còn làm nổi bật nét riêng trong tư tưởng và nghệ thuật của mỗi nhà văn.

Trước hết, Chí Phèo (1941) là truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao, viết về bi kịch tha hóa và khát vọng làm người của người nông dân dưới chế độ thực dân phong kiến. Tác phẩm lấy bối cảnh làng Vũ Đại với hệ thống cường hào điển hình, tiêu biểu là Bá Kiến. Trong khi đó, Vợ nhặt (in trong tập Con chó xấu xí, 1962 nhưng viết từ trước 1945) của Kim Lân lại tái hiện nạn đói khủng khiếp năm 1945, phản ánh cuộc sống cùng cực của người dân nhưng đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp tình người và niềm hi vọng. Nếu Nam Cao đi sâu vào bi kịch cá nhân thì Kim Lân hướng đến bức tranh gia đình và cộng đồng trong hoàn cảnh khốn cùng.

Điểm tương đồng nổi bật giữa hai tác phẩm là cùng phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc đã đẩy con người vào bước đường cùng. Trong Chí Phèo, Nam Cao cho thấy một xã hội mà quyền lực nằm trong tay bọn cường hào, khiến người nông dân không có lối thoát. Chí Phèo từ một người lương thiện bị đẩy vào tù, rồi trở về thành kẻ lưu manh, mất hết nhân hình lẫn nhân tính. Trong Vợ nhặt, cái đói đã khiến con người rơi vào cảnh “bên bờ cái chết”, đến mức việc lấy vợ trở thành chuyện “nhặt được”. Những hình ảnh như xác người, tiếng quạ, không khí ảm đạm đã khắc họa rõ sự khốc liệt của hiện thực. Như vậy, cả hai tác phẩm đều tố cáo xã hội đã chà đạp lên con người, khiến họ rơi vào bi kịch.

Bên cạnh đó, hai tác phẩm còn gặp nhau ở giá trị nhân đạo sâu sắc. Nam Cao không chỉ phơi bày sự tha hóa của Chí Phèo mà còn phát hiện bản chất lương thiện bị vùi lấp trong con người hắn. Chi tiết bát cháo hành của Thị Nở đã đánh thức phần người trong Chí, làm hắn khao khát được làm người lương thiện. Tuy nhiên, xã hội đã không cho hắn cơ hội, dẫn đến cái chết bi thảm. Trong khi đó, Kim Lân lại khám phá vẻ đẹp của tình người trong nạn đói. Tràng sẵn sàng cưu mang người đàn bà xa lạ, bà cụ Tứ đón nhận con dâu bằng sự bao dung, còn người “vợ nhặt” dần thay đổi trở nên hiền hậu. Dù đói khổ, con người vẫn hướng về sự sống, vẫn nuôi hi vọng. Điều đó cho thấy cả hai tác giả đều trân trọng con người và khẳng định giá trị nhân phẩm.

Tuy nhiên, giữa hai tác phẩm cũng có những điểm khác biệt rõ rệt. Trước hết là về cách nhìn hiện thực và tư tưởng. Chí Phèo mang màu sắc bi kịch sâu sắc, phản ánh sự bế tắc của người nông dân trong xã hội cũ. Nhân vật chính bị từ chối quyền làm người và cuối cùng phải chết trong tuyệt vọng. Ngược lại, Vợ nhặt tuy cũng phản ánh hiện thực khốc liệt nhưng lại mở ra hướng đi tích cực. Kết thúc truyện gợi lên hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ, báo hiệu con đường cách mạng. Như vậy, nếu Nam Cao nhấn mạnh bi kịch thì Kim Lân lại hướng đến niềm tin và hi vọng.

Sự khác biệt còn thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và tình huống truyện. Nam Cao xây dựng nhân vật điển hình với chiều sâu tâm lí sắc sảo. Chí Phèo là hình tượng mang tính khái quát cao, đại diện cho bi kịch của người nông dân bị tha hóa. Nhà văn đi sâu vào diễn biến nội tâm, đặc biệt là quá trình thức tỉnh của nhân vật. Trong khi đó, Kim Lân lại nổi bật với nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo: “nhặt vợ” – một tình huống vừa bi hài vừa giàu ý nghĩa. Từ tình huống ấy, tác giả làm nổi bật tâm lí và tính cách nhân vật trong những biến chuyển tinh tế. Ngôn ngữ của Kim Lân giản dị, gần gũi, còn Nam Cao sắc sảo, giàu tính phân tích.

Nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt này xuất phát từ nhiều yếu tố. Cả hai tác giả đều là nhà văn hiện thực, cùng quan tâm đến số phận người nông dân nên có sự gặp gỡ về đề tài và cảm hứng nhân đạo. Tuy nhiên, mỗi người lại có phong cách và cách nhìn riêng: Nam Cao thiên về phân tích bi kịch cá nhân và sự tha hóa, còn Kim Lân hướng đến vẻ đẹp đời sống và sức sống của con người. Bên cạnh đó, bối cảnh sáng tác cũng ảnh hưởng đến tư tưởng tác phẩm: Chí Phèo phản ánh sự bế tắc trước Cách mạng, còn Vợ nhặt mang ánh sáng của niềm tin vào sự đổi thay.

Từ việc so sánh, có thể thấy cả hai tác phẩm đều có giá trị lớn trong việc phản ánh hiện thực và thể hiện tư tưởng nhân đạo. Chí Phèo là bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội đã cướp đi quyền làm người của con người, đồng thời khẳng định khát vọng lương thiện. Vợ nhặt lại là bài ca về tình người và niềm hi vọng trong hoàn cảnh khốn cùng. Mỗi tác phẩm mang một vẻ đẹp riêng, góp phần làm phong phú diện mạo văn học Việt Nam.

Tóm lại, việc so sánh Vợ nhặtChí Phèo giúp ta hiểu rõ hơn giá trị của từng tác phẩm cũng như đặc điểm của văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng. Dù khác nhau về cách thể hiện, cả hai đều gặp nhau ở tinh thần nhân đạo và niềm tin vào con người. Chính điều đó đã làm nên sức sống bền vững của hai tác phẩm trong lòng bạn đọc.

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Ông luôn hướng ngòi bút về cuộc sống của người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám với niềm xót thương sâu sắc và thái độ phê phán mạnh mẽ xã hội tàn bạo đương thời. Trong số những sáng tác tiêu biểu của ông, Chí Phèo và Lão Hạc là hai truyện ngắn nổi bật, thể hiện rõ tài năng và tư tưởng nhân đạo của nhà văn. Việc đặt hai tác phẩm trong tương quan so sánh không chỉ giúp thấy được những điểm gặp gỡ trong cảm hứng sáng tác của Nam Cao mà còn làm nổi bật nét độc đáo riêng của từng tác phẩm, từ đó hiểu sâu hơn giá trị hiện thực và nhân đạo của văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng.

Trước hết, cả Chí Phèo và Lão Hạc đều ra đời trong giai đoạn văn học hiện thực phê phán phát triển mạnh mẽ trước năm 1945. Lão Hạc được viết năm 1943, còn Chí Phèo ra đời năm 1941. Hai tác phẩm đều lấy đề tài người nông dân nghèo trong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến, phản ánh cuộc sống cơ cực, bế tắc của họ dưới ách áp bức của cường quyền và đồng tiền. Nếu Lão Hạc kể về cuộc đời đau khổ của một người cha nghèo sống cô độc, phải bán đi con chó Vàng – kỉ vật quý giá của con trai – rồi tìm đến cái chết để giữ gìn nhân phẩm, thì Chí Phèo lại xoay quanh bi kịch của một người nông dân lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh hóa và cuối cùng chết trong tuyệt vọng khi khát vọng làm người không được chấp nhận. Với hệ thống nhân vật điển hình và cốt truyện giàu sức ám ảnh, cả hai tác phẩm đều giữ vị trí quan trọng trong nền văn học hiện thực Việt Nam, góp phần khẳng định tên tuổi Nam Cao như một nhà văn lớn của người nông dân.

Giữa hai tác phẩm có nhiều điểm tương đồng nổi bật. Trước hết, cả Chí Phèo và Lão Hạc đều thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc. Qua số phận của Chí Phèo và lão Hạc, Nam Cao đã tố cáo xã hội thực dân phong kiến vô nhân đạo đã đẩy người nông dân vào cảnh nghèo đói, cùng quẫn, mất quyền sống và quyền làm người. Chí Phèo từ một anh canh điền hiền lành trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” vì sự tàn ác của Bá Kiến và nhà tù thực dân. Lão Hạc thì bị cái đói, cái nghèo dồn ép đến bước đường cùng, phải tìm đến cái chết đau đớn. Qua đó, nhà văn cho thấy xã hội cũ không chỉ bóc lột con người về vật chất mà còn hủy hoại cả nhân phẩm và tâm hồn của họ.

Không chỉ có giá trị hiện thực, hai tác phẩm còn thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Nam Cao luôn nhìn người nông dân bằng ánh mắt yêu thương, trân trọng. Ông phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp còn tiềm ẩn trong những con người khốn khổ ấy. Ở Chí Phèo, dù bị tha hóa, hắn vẫn khao khát được trở lại làm người lương thiện khi gặp Thị Nở. Ở lão Hạc, đó là tình yêu thương con sâu nặng, lòng tự trọng và nhân cách trong sạch đến cảm động. Nhà văn không chỉ cảm thông với nỗi đau của người nông dân mà còn lên tiếng đòi quyền sống, quyền được làm người cho họ.

Ngoài ra, hai tác phẩm còn gặp nhau ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và miêu tả tâm lí. Nam Cao đặc biệt giỏi đi sâu vào nội tâm nhân vật, khám phá những diễn biến tinh vi trong tâm hồn con người. Từ tiếng khóc, cơn say, tiếng chửi của Chí Phèo đến nỗi day dứt đau đớn của lão Hạc sau khi bán chó, tất cả đều được khắc họa chân thực, giàu sức ám ảnh. Ngôn ngữ truyện gần gũi, tự nhiên mà giàu giá trị biểu cảm, góp phần tạo nên chiều sâu cho tác phẩm.

Những điểm tương đồng ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử và quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Sống trong xã hội đầy bất công, tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực của người nông dân, Nam Cao mang trong mình ý thức hiện thực sâu sắc cùng tấm lòng nhân đạo lớn lao. Vì vậy, các sáng tác của ông đều hướng tới việc phản ánh chân thực xã hội và bảo vệ phẩm giá con người.

Tuy nhiên, bên cạnh những nét tương đồng, Chí Phèo và Lão Hạc vẫn có nhiều điểm khác biệt độc đáo. Trước hết là ở kiểu nhân vật trung tâm. Lão Hạc là hình tượng người nông dân giàu lòng tự trọng, dù nghèo đói vẫn cố giữ gìn phẩm giá. Ông chọn cái chết để bảo toàn nhân cách và giữ lại mảnh vườn cho con. Trong khi đó, Chí Phèo là hình tượng người nông dân bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính. Bi kịch của Chí không chỉ là nghèo đói mà còn là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Nếu lão Hạc tiêu biểu cho vẻ đẹp nhân phẩm của người nông dân thì Chí Phèo lại tiêu biểu cho quá trình lưu manh hóa mà xã hội tàn bạo gây ra.

Hai tác phẩm cũng khác nhau ở cách xây dựng tình huống truyện. Lão Hạc có cốt truyện đơn giản, nhẹ nhàng nhưng giàu chiều sâu tâm lí. Điểm nhấn của truyện là việc bán chó và cái chết dữ dội của lão Hạc. Ngược lại, Chí Phèo có kết cấu phức tạp hơn, chứa đựng nhiều xung đột gay gắt. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở trở thành bước ngoặt làm thức tỉnh phần người trong Chí, đồng thời đẩy bi kịch của nhân vật lên đến đỉnh điểm.

Giọng điệu nghệ thuật của hai truyện cũng có sự khác biệt. Lão Hạc mang giọng buồn thương, trầm lắng, giàu chất trữ tình. Trong khi đó, Chí Phèo có giọng điệu sắc lạnh, chua chát, xen lẫn mỉa mai và đau đớn. Nếu Lão Hạc khiến người đọc xúc động bởi sự hi sinh âm thầm thì Chí Phèo gây ám ảnh bởi tiếng kêu tuyệt vọng của một con người bị xã hội cướp mất quyền làm người.

Sự khác biệt ấy xuất phát từ mục đích phản ánh hiện thực và ý đồ nghệ thuật của Nam Cao. Với Lão Hạc, nhà văn muốn khẳng định vẻ đẹp nhân cách của người nông dân nghèo. Còn ở Chí Phèo, ông đi sâu khám phá quy luật tha hóa của con người trong xã hội cũ và đặt ra vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc về quyền sống của con người.

Đặt Chí Phèo và Lão Hạc trong tương quan so sánh giúp người đọc thấy rõ tài năng và chiều sâu tư tưởng của Nam Cao. Hai tác phẩm vừa thống nhất ở cảm hứng hiện thực và nhân đạo, vừa mang những nét riêng độc đáo về nội dung và nghệ thuật. Qua đó, ta càng hiểu rõ hơn số phận bi thảm và vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, đồng thời cảm nhận sâu sắc giá trị bền vững của văn học hiện thực Việt Nam. Chí Phèo và Lão Hạc vì thế vẫn mãi là những tác phẩm tiêu biểu, có sức lay động lớn lao đối với nhiều thế hệ bạn đọc.

4. Chỉnh sửa, hoàn thiện

- Đối chiếu với yêu cầu của bài và dàn ý đã lập để thực hiện những chỉnh sửa cần thiết nhằm hoàn thiện văn bản về mặt nội dung.

- Rà soát, khắc phục những lỗi về chính tả, diễn đạt và trình bày để bài viết đáp ứng được những đòi hỏi về chuẩn mực hình thức.