Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 12 trang 51 - Kết nối tri thức

1,194 từ~6 phút đọc

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 12 trang 51 - Kết nối tri thức

Với soạn bài Thực hành tiếng Việt: Tác dụng của một số biện pháp tu từ trong thơ trang 51 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 12 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 12.

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 12 trang 51 - Kết nối tri thức

Câu 1 (trang 51 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong các ngữ liệu duới đây:

a. Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

(Quang Dũng, Tây Tiến)

b. Trời thu thay áo mới,

Trong biếc, nói cười thiết tha.

(Nguyễn Đình Thi, Đất nước)

Trả lời:

a. Phép nhân hóa:  “thác gầm thét”, “cọp trêu người” được tác giả nhân hóa hành động như con người => miêu tả sự hiểm trở của núi rừng Tây Tiến.

b. Phép nhân hóa: “thay áo mới”, “nói cười thiết tha” => vẻ đẹp của mùa thu trong trẻo, miêu tả không khí của những ngày giao mùa.

a. Các hình ảnh nhân hoá (thác gầm thét, cọp trêu người) không chỉ tái hiện khung cảnh rừng già hoang vu, bí ẩn, dữ dội mà còn gợi cảm giác “rờn rợn” của những người lính Tây Tiến trước cảnh sơn lâm “bóng cả, cây già”. Nơi đây, thiên nhiên hoang dã ngự trị, thú dữ rình rập, trêu đùa con người.

b. Nhờ biện pháp tu từ nhân hoá (Trời thu thay áo mới), hình ảnh bầu trời thu hiện lên như một con người trong màu áo mới tinh khôi với vẻ tươi tắn, rạng rỡ, sống động, ấm áp (nở cười thiết tha); gợi khung cảnh tươi sáng và không khí tràn ngập niềm vui, hạnh phúc của mùa thu độc lập.

Câu 2 (trang 51 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Làm rõ mục đích và cách tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ trong đoạn thơ sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Quang Dūng, Tây Tiến)

Trả lời

- “Đoàn binh không mọc tóc” => những cơn sốt rét rừng là rụng tóc => sự khó khăn, gian khổ của những ngày hành quân.

- “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” => ốm nên da dẻ xanh xao, nhưng đối diện với quân thù thì vẫn hùng dũng, hiên ngang.

- “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” => những người lính ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc khi còn trẻ, trong lòng có những bóng dáng nàng thơ.

- Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” được nhà thơ sử dụng để khắc hoạ cốt cách ngang tàng, kiêu dũng của người lính Tây Tiến. Bất chấp hình hài tiều tuỵ, xanh xao vì căn bệnh sốt rét rừng, phong thái của họ vẫn hùng dũng, oai nghiêm như chúa sơn lâm.

- Hình ảnh “dáng kiều thơm” ẩn dụ cho vẻ đẹp duyên dáng, yêu kiều, sang trọng của những thiếu nữ Hà thành. Qua đó, nhà thơ không chỉ thể hiện nỗi nhớ quê nhà, khát vọng tình yêu mà còn làm nổi bật được tâm hồn mơ mộng, lãng mạn của người lính Tây Tiến.

Câu 3 (trang 51 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):  Biện pháp tu từ điệp ngữ đã được sử dụng như thế nào và đạt hiệu quả gì trong các đoạn thơ sau:

a.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước Xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

(Quang Dũng, Tây Tiến)

b.

tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ây

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta ròng ròng

máu chảy

(Thanh Thảo, Đàn ghi ta của Lor-ca)

Trả lời:

a. Điệp: “dốc”, “ngàn thước” => diễn tả sự hiểm trở và những con đường quanh co, gập ghềnh, đứt đoạn, hiểm trở của núi rừng Tây Bắc.

b. Điệp: “tiếng ghi ta” => như tiếng nấc nghẹn, nghẹn ngào, đau xót trước một người nghệ sĩ đã cống hiến hết mình cho tình yêu nghệ thuật.

a. Các điệp ngữ trong đoạn thơ (dốc, ngàn thước) có tác dụng nhấn mạnh sự hùng vĩ, hiểm trở của núi non vùng Tây Bắc với những con dốc tiếp nối nhau như không bao giờ dứt, những đỉnh núi cao ngất trời và vực sâu thăm thẳm.

b. Điệp ngữ “tiếng ghi ta” có tác dụng liệt kê, nhấn mạnh những ấn tượng về tiếng đàn, về nghệ thuật và tâm hồn người nghệ sĩ Lor-ca; đồng thời tạo nhịp điệu, giai điệu cho các câu thơ, đoạn thơ.

Câu 4 (trang 51 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): So sánh cách sử dụng biện pháp tu từ đối trong các ngữ liệu dưới đây:

a.

Gặp thời đồ điếu công thành dễ,

Lỡ vận anh hùng hận xót xa.

Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,

Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà.

(Đặng Dung, Cảm hoài, Nguyễn Khắc Phi dịch)

b.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

(Quang Düng, Tây Tiến)

Trả lời

a. Đối: “Gặp thời đồ điếu công thành dễ” >< “Lỡ vận anh hùng hận xót xa”

 => quan niệm về thời thế => những người anh hùng tuy chí cao nhưng lỡ vận thì cũng đành ôm hận xót xa.

b. Đối từ ngữ là địa danh: Sài Khao – Mường Lát) có tác dụng nhấn mạnh vẻ đẹp của thiên nhiên miền sơn cước: vừa hiểm trở, hoang vu, giá lạnh vừa thơ mộng, tình tứ.

a. Biện pháp tu từ đối ở bốn câu thơ (gặp thời – lỡ vận, đồ điếu – anh hùng, công thành đế – hận xót xa; phò chúa – tẩy binh, dốc lòng – khôn lối, nâng trục đất – kéo Ngân Hà) có tác dụng nhấn mạnh những “trải nghiệm” đau đớn và bày tỏ nỗi niềm bi phẫn của nhân vật trữ tình.

Biện pháp tu từ đối ở hai liên thơ giữa có tác dụng nhấn mạnh sự tương phản giữa hoài bão lớn lao, khát vọng phi thường của nhân vật trữ tình và thực tại phũ phàng, nghiệt ngã; đồng thời thể hiện cảm giác bất lực, tâm trạng đau xót, cay đắng của người anh hùng lỡ thời, thất thế.

b. Biện pháp tu từ đối được sử dụng một cách linh hoạt (đối từ ngữ là địa danh: Sài Khao – Mường Lát), miêu tả trạng thái của cảnh vật (sương lấp, hoa về) có tác dụng nhấn mạnh vẻ đẹp của thiên nhiên miền sơn cước: vừa hiểm trở, hoang vu, giá lạnh vừa thơ mộng, tình tứ.