Soạn bài Dương phụ hành - Kết nối tri thức
Soạn bài Dương phụ hành - Kết nối tri thức
Với soạn bài Dương phụ hành trang 107, 108, 109 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.
Soạn bài Dương phụ hành - Kết nối tri thức
* Trước khi đọc
Câu hỏi 1 (trang 107 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Theo bạn, khi đi đến một xứ sở khác, tiếp xúc với một nền văn hóa khác, người ta thường có những phản ứng hay cảm xúc như thế nào trước những gì được gặp, được thấy?
Trả lời:
Khi đi đến một xứ sở khác, tiếp xúc với một nền văn hóa khác, người ta thường có phản ứng ngạc nhiên, bất ngờ, hứng thú trước những điều được gặp, được thấy.
- Khi tiếp xúc với một nền văn hoá mới, con người thường cảm thấy ngạc nhiên, tò mò và thích thú trước những điều khác lạ.
- Bên cạnh đó, cũng có thể xuất hiện sự bỡ ngỡ, lúng túng hoặc sốc văn hoá do những khác biệt về phong tục, ngôn ngữ, cách ứng xử. Tuy nhiên, nếu cởi mở và tôn trọng, con người sẽ dần thích nghi, học hỏi và trân trọng sự đa dạng văn hoá.
Câu hỏi 2 (trang 107 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bạn đã biết câu chuyện thú vị nào về cuộc tiếp xúc văn hóa giữa những người đến từ hai thế giới: phương Đông và phương Tây? Hãy chia sẻ câu chuyện đó.
Trả lời:
Câu chuyện thú vị về cuộc tiếp xúc văn hóa giữa những người đến từ hai thế giới: phương Đông và phương Tây: người đàn ông nước ngoài ăn phở Việt Nam. Họ không biết cách dùng đũa, loay hoay một hồi thì được bác chủ quán hướng dẫn cách cầm đũa nhưng vẫn không học được. Vì thế, bác đã cắt nhỏ phở giúp cho vị khách nước ngoài.
- Một câu chuyện thú vị là về việc người phương Tây khi đến châu Á thường ngạc nhiên với văn hoá dùng đũa, trong khi người phương Đông lại thấy lạ với việc dùng dao – nĩa.
- Có nhiều du khách nước ngoài ban đầu gặp khó khăn khi sử dụng đũa, nhưng sau khi học được, họ lại cảm thấy thích thú và xem đó là trải nghiệm đáng nhớ.
- Ngược lại, người phương Đông khi sang phương Tây cũng phải làm quen với cách ăn uống, giao tiếp thẳng thắn và lối sống cá nhân hơn.
- Những khác biệt đó tuy ban đầu gây bỡ ngỡ nhưng lại giúp con người hiểu nhau hơn và làm giàu thêm trải nghiệm sống.
* Đọc văn bản
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc
1. Chú ý các chi tiết miêu tả hình ảnh người thiếu phụ phương Tây.
Áo trắng phau, tựa vai chồng, kéo áo, rì rầm nói chuyện, tay cầm cốc sữa, uốn éo.
- Người thiếu phụ hiện lên với vẻ đẹp nổi bật qua hình ảnh “áo trắng như tuyết”, gợi sự tinh khiết, dịu dàng.
- Nàng “tựa mình bên lan can dưới ánh trăng”, tạo nên dáng vẻ thanh thoát, thơ mộng.
- Chi tiết “kề vai cùng chồng” và “rỉ rầm trò chuyện” cho thấy cuộc sống hạnh phúc, gắn bó của vợ chồng.
2. Hình dung về nhân vật trữ tình
Nhân vật trữ tình dường như cảm thấy bất ngờ về hành động âu yếm, có chút lả lơi ở chốn đông người của người thiếu phụ bởi đây là cảnh cực kỳ hiếm thấy ở phương Đông. Người phương Đông thường rất coi trọng lễ nghi và để ý của người khác, những hành động như vậy thường được cho là khiếm nhã. Bởi vậy khi nhìn thấy hành động âu yếm của người thiếu phụ với chồng khiến ông không khỏi bất ngờ, kinh ngạc.
- Nhân vật trữ tình là người đứng ngoài quan sát, đồng thời bộc lộ tâm trạng của mình. Trước cảnh hạnh phúc của đôi vợ chồng Tây dương, nhân vật trữ tình cảm thấy cô đơn, tủi phận. Những chi tiết như “gió bấc lạnh”, “đêm không chịu nổi” cho thấy nỗi buồn sâu sắc. Nhân vật ý thức rõ hoàn cảnh “biệt li” của mình nên càng thêm nhớ thương và khao khát hạnh phúc.
* Sau khi đọc
Nội dung chính: Bài thơ thế hiện cái nhìn tinh tế, phóng khoáng của một vị quan phương Đông, vốn là nơi rất cổ hủ, khe khắt, đối với cảnh tình tự, âu yếm của một đôi vợ chồng trẻ Tây dương.

Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1 (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): So sánh và chỉ ra những chỗ khác biệt giữa bản dịch thơ với nguyên tác.
Trả lời:
- Giống nhau: Đều là thể thơ bảy chữ, đều truyền tải thông điệp về sự khác nhau về văn hóa phương Đông và phương Tây của một con người xa xứ.
- Khác nhau:
+ Bản dịch thơ: Ngữ điệu mang tính nhạc điệu hơn, chưa truyền tải được hết ý nghĩa so với bản nguyên tác.
+ Bản nguyên tác: Ngữ điệu thơ mang tính chất của một câu chuyện kể, từ ngữ đa phần là từ Hán Việt nên nhiều từ ngữ còn gây khó hiểu.
- Giống nhau: Cả hai đều viết theo thể thơ bảy chữ và cùng thể hiện sự khác biệt giữa văn hoá phương Đông và phương Tây qua góc nhìn của một con người xa xứ.
- Khác nhau:
+ Bản dịch thơ: Giọng điệu giàu nhạc tính, trôi chảy, dễ cảm nhận nhưng chưa chuyển tải trọn vẹn sắc thái và ý nghĩa của nguyên tác.
+ Bản nguyên tác: Mang giọng kể rõ nét hơn, thiên về tự sự; sử dụng nhiều từ Hán Việt nên có phần khó hiểu đối với người đọc hiện nay.
Câu 2 (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Xác định thời gian, không gian, sự việc của câu chuyện được kể trong bài thơ.
Trả lời:
- Thời gian: buổi tối
- Không gian: dưới bóng trăng thanh
- Sự việc: Người phụ nữ Tây phương tựa vai người chồng trong đêm trăng thâu tíu tít trò chuyện, thân mật.
- Thời gian: Ban đêm, có gió lạnh (“gió bấc thổi hơi lạnh ban đêm”).
- Không gian: Bên ngoài (lan can, dưới trăng) và không gian riêng của nhân vật trữ tình.
- Sự việc: Nhân vật trữ tình chứng kiến cảnh đôi vợ chồng Tây dương hạnh phúc, từ đó bộc lộ tâm trạng của mình.
Câu 3 (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chỉ ra những chi tiết miêu tả người thiếu phụ phương Tây, qua đó, nêu các đặc điểm nổi bật của hình tượng này.
Trả lời:
- Các chi tiết miêu tả người thiếu phụ phương Tây: áo trắng phau, tựa vào vai chồng, kéo chồng thì thầm nói, tay cầm một cốc sữa, nũng nịu đòi chồng đỡ dậy.
- Các đặc điểm nổi bật của hình tượng nhân vật này: Tất cả những chi tiết đó làm nổi bật lên hình ảnh một người phụ nữ đang làm nũng với chồng của mình. Nàng muốn được chồng yêu mến, chiều chuộng và cảm thấy hạnh phúc khi làm những hành động đấy. Đây cũng là cách tác giả muốn nói đến người phương Tây, họ luôn cởi mở, phóng khoáng và không e ngại khi làm những hành động như vậy ở nơi công cộng bởi theo họ vợ chồng yêu nhau là việc hết sức bình thường.
- Các chi tiết: “áo trắng như tuyết”, “dựa lan can”, “kề vai”, “rỉ rầm trò chuyện”.
- Đặc điểm nổi bật: vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng; cuộc sống tình cảm tự nhiên, gắn bó, hạnh phúc với chồng.
Câu 4 (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Hình tượng người thiếu phụ phương Tây trong bài thơ được tái hiện qua cái nhìn của một nhà Nho đồng thời cũng là một nhà thơ phương Đông. Hãy phân tích những cảm xúc, thái độ được tác giả bộc lộ từ các điểm nhìn đó.
Trả lời:
Cảm xúc, thái độ của tác giả khi nhìn thấy cảnh tượng:
- “Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau”
→ Câu thơ phần nào cho thấy sự phóng túng, sa hoa trong cách ăn mặc của người phương Tây khiến tác giả có phần lạ lẫm
- “Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu/ Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói/ Kéo áo, rì rầm nói với nhau”
→ Hình ảnh người thiếu phụ tựa vai chồng một cách âu yếm, hạnh phúc khiến tác giả có chút ghen tị khi nhìn lại hoàn cảnh của mình.
- “Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay/ Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!”
Khung cảnh ban đêm tĩnh lặng, gió lạnh khiến nỗi buồn của tác giả càng dâng trào
- “Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,”
→ Người thiếu phụ tiếp tục làm nũng chồng khiến tác giả càng thêm buồn vì tình cảnh lẻ loi, cô độc nơi đất khách quê người của mình
- “Biết đâu nỗi khách biệt ly này.”
→ Nỗi buồn, cô đơn của tác giả được đẩy lên cao trào và thốt ra thành lời, tác giả thương thay cho thân phận đất khách quê hương và tình cảnh lẻ loi, cô độc của mình.
- Trước hết, nhà Nho phương Đông thể hiện sự ngạc nhiên và chú ý khi quan sát hình ảnh người thiếu phụ phương Tây. Những chi tiết như “tựa vai chồng”, “kề vai”, “rỉ rầm trò chuyện” cho thấy một cách bộc lộ tình cảm tự nhiên, trực tiếp, khác với sự kín đáo quen thuộc trong văn hoá phương Đông.
- Từ đó, tác giả bộc lộ sự cảm thông và phần nào ngưỡng mộ đối với hạnh phúc lứa đôi của họ. Hình ảnh “áo trắng như tuyết”, “dưới bóng trăng” không chỉ gợi vẻ đẹp mà còn tạo nên một không gian tình yêu êm đềm, đáng trân trọng.
- Tuy nhiên, đằng sau cái nhìn ấy là nỗi chạnh lòng, buồn tủi của chính nhân vật trữ tình. Khi chứng kiến cảnh sum vầy của người khác, tác giả liên tưởng đến hoàn cảnh “biệt li” của mình, từ đó nảy sinh cảm giác cô đơn, lạnh lẽo.
=> Như vậy, cái nhìn của nhà Nho không mang tính phê phán mà là một cái nhìn cởi mở, giàu cảm xúc, vừa ghi nhận nét đẹp văn hoá khác biệt, vừa bộc lộ tâm trạng riêng sâu kín.
Câu 5 (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong câu thơ kết và những ý tứ được mở ra từ câu thơ này?
Trả lời:
Tâm trạng của nhân trạng nhân vật trữ tình trong câu thơ kết chính là nỗi nhớ khi xa quê, xa gia đình. Bên cạnh đó, câu thơ còn thể hiện tính nhân văn, một góc nhìn mới rất hiện đại, ông như được mở mang đầu óc sau chuyến đi đó.
- Nhân vật trữ tình cảm thấy cô đơn, buồn tủi và lạnh lẽo (“gió bấc… không chịu nổi”).
- Nỗi buồn xuất phát từ cảnh biệt li vợ chồng (“vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy”).
- Câu thơ thể hiện sự khao khát được đoàn tụ, được yêu thương nhưng không thể.
Câu 6 (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Đọc bài thơ, bạn cảm nhận được điều gì về tư tưởng, tâm hồn tác giả?
Trả lời:
Qua bài thơ, người đọc thấy được cái nhìn đa sầu, đa cảm và tư tưởng tiến bộ của nhà thơ. Người phụ nữ trong xã hội này cần được yêu thương, chăm sóc, có quyền nũng nịu người chồng của mình chứ không phải như người phụ nữ phương Đông vất vả, khổ cực, muốn chồng san sẻ một chút cũng khó. Qua đó, cũng thể hiện tâm hồn phóng khoáng, đầy nhân văn của tác giả, tác giả cũng mong muốn có một gia đình ấm no, hạnh phúc, tác giả cũng được khai sáng hơn sau chuyến đi này, mở ra một góc nhìn thoáng hơn, mới hơn, hiện đại hơn.
Qua bài thơ, có thể thấy tác giả là một con người giàu cảm xúc và rất nhạy cảm trước những biểu hiện của đời sống. Trước hình ảnh người thiếu phụ phương Tây sống hạnh phúc bên chồng, ông không hề có thái độ phê phán mà thể hiện một cái nhìn cởi mở, biết trân trọng những nét đẹp khác biệt của văn hoá phương Tây. Đồng thời, từ việc quan sát ấy, tác giả cũng bộc lộ nỗi niềm riêng của mình: sự cô đơn, buồn tủi và khát khao hạnh phúc lứa đôi trong hoàn cảnh xa cách. Qua đó, có thể thấy tác giả không chỉ có tâm hồn tinh tế mà còn mang những suy tư sâu sắc về tình cảm con người và giá trị của hạnh phúc.
* Kết nối đọc – viết
Bài tập (trang 109 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày điều kiện bạn thấy tâm đắc nhất ở bài thơ Dương phụ hành.
Đoạn văn tham khảo
Dương Phụ Hành được Cao Bá Quát sáng tác trong lần ông có dịp theo phái bộ của Đào Phú Trí đi công cán bên Indonesia. Đặc biệt, chuyến đi ấy đã giúp Cao Bá Quát phát hiện ra nhiều điều mới mẻ, thú vị thông qua hình ảnh người phụ nữ phương Tây làm nũng với chồng. Tất cả những chi tiết ấy đều được quan sát bằng đôi mắt tinh tế của Cao Bá Quát, ông đã ghi lại và miêu tả cảnh tượng ấy thật khách quan. Sự đồng cảm, tán thưởng được tác giả được bộc lộ một cách nhẹ nhàng, kín đáo. Chính vì lẽ đó mà hình tượng người đàn bà Tây dương trong tác phẩm mới mang những nét riêng rất độc đáo và đặc sắc. Trong xã hội hiện đại ngày nay, có thể những lời nói và cử chỉ hồn nhiên kia đối với mọi người là quá đỗi bình thường, thậm chí người ta còn thấy rằng rất ngọt ngào và chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt. Nhưng đối với thời bấy giờ, khi ấy xã hội phong kiến Việt Nam còn bị bó buộc bởi những quan điểm bảo thủ, cực đoan, thiển cận trong những lối tự tôn mù quáng, lố lăng thì việc tán thưởng hay đồng tình với một cảnh tượng đẹp đẽ và xa lạ như thế đã thể hiện quan niệm nghệ thuật thật mới mẻ và hiện đại.
Một trong những điều khiến em tâm đắc nhất khi đọc bài thơ Dương phụ hành là cách tác giả thể hiện cái nhìn cởi mở trước sự khác biệt văn hoá Đông – Tây. Qua hình ảnh người thiếu phụ phương Tây “áo trắng như tuyết”, “kề vai cùng chồng”, “rỉ rầm trò chuyện”, tác giả không hề phê phán mà trái lại còn bộc lộ sự trân trọng đối với một lối sống tự nhiên, chân thành trong tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy một tư duy tiến bộ, vượt ra khỏi những khuôn mẫu khắt khe của lễ giáo phong kiến phương Đông vốn đề cao sự kín đáo, e lệ. Không chỉ dừng lại ở việc quan sát, bài thơ còn thể hiện chiều sâu cảm xúc khi từ cảnh hạnh phúc của người khác, tác giả liên hệ đến hoàn cảnh của chính mình, từ đó bộc lộ nỗi cô đơn, buồn tủi và khát khao được yêu thương. Chính sự kết hợp giữa cái nhìn khách quan và cảm xúc chủ quan đã làm cho bài thơ trở nên giàu giá trị nhân văn. Qua đó, em nhận ra rằng việc tôn trọng sự khác biệt văn hoá không chỉ giúp con người mở rộng hiểu biết mà còn khiến ta biết trân quý hơn những giá trị tình cảm giản dị mà sâu sắc trong cuộc sống.