Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (Con người với cuộc sống xung quanh) - Kết nối tri thức
Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (Con người với cuộc sống xung quanh) - Kết nối tri thức
Với soạn bài Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (Con người với cuộc sống xung quanh) trang 90, 91, 92, 93, 94, 95 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.
Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (Con người với cuộc sống xung quanh) - Kết nối tri thức
* Yêu cầu
- Nêu được vấn đề giàu ý nghĩa, gợi mở cách nhìn nhận sâu hơn về mối quan hệ giữa con người với cuộc sống xung quanh.
- Thể hiện được quan điểm rõ ràng của người viết về vấn đề, thông qua hệ thống luận điểm chặt chẽ, các lí lẽ sắc bén và những bằng chứng phù hợp, sinh động.
- Dẫn được những ý kiến trái chiều có thể có về vấn đề được bàn luận để phản bác nhằm củng cố lập luận của bài viết.
- Rút ra được ý nghĩa của việc nhận thức đúng về vấn đề.
* Phân tích bài viết tham khảo
Lắng nghe những tiếng thì thầm của cuộc sống
1. Nêu vấn đề bàn luận theo lối trực tiếp.
Lắng nghe được những tiếng thì thầm trong cuộc sống.
2. Luận điểm 1: Bàn về nghĩa của từ “lắng nghe”.
- Lắng nghe trước hết thể hiện sự tập trung tiếp nhận âm thanh từ bên ngoài.
- Lắng nghe còn có nghĩa là thấu hiểu, đồng cảm.
- Biết lắng nghe có nghĩa là có khả năng sẻ chia với những nghĩ suy, tâm tư khát vọng của người khác…
3. Luận điểm 2: Bàn về việc lắng nghe nỗi buồn vui của con người với những bằng chứng thực tế.
- Đó là lời tâm sự của một em bé … Tết gần về,…
- Ta vui mừng … đến Ai Cập.
4. Luận điểm 3: Bàn về việc lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên qua trải nghiệm.
- Thiên nhiên quanh ta cũng có tiếng nói.
- Mỗi người cần lắng lòng lại để suy nghĩ đối diện với mẹ thiên nhiên vĩ đại.
- Những âm thanh ấy giúp con người giao hòa cùng thiên nhiên.
5. Luận điểm 4: Phản bác ý kiến trái chiều.
- Nhưng có phải vì sự “bé mọn” của những tiếng thì thầm ấy mà ta có thể bỏ qua chúng, bởi cuộc sống này còn biết bao điều đang khiến ta quan tâm.
- Nếu không biết lắng nghe tiếng nói nhỏ bé của cuộc sống thì cuộc đời này sẽ trở nên nhạt nhẽo hoặc chỉ toàn âm thanh ồn ã, chát chúa.
- Và sẽ chẳng còn những ánh mắt sẻ chia, những bàn tay đan kết, những cử chỉ dịu dàng gửi chút tấm lòng “để gió cuốn đi”.
6. Luận điểm 5: Bàn về ý nghĩa của việc lắng nghe.
- Lắng nghe là để hiểu, để hành động và hướng tới những điều tốt đẹp: cảm nhận chân thực và biết trân quý hơn những giá trị sống quanh mình,…
- Lắng nghe bằng cả tâm hồn, ta sẽ cảm nhận những gửi trao đầy ắp yêu thương.
- Đó là sợi dây vô hình kết nối con người với nhau và con người với thế giới xung quanh.
7. Kết luận về vấn đề bàn luận.
- Chỉ một khoảnh khắc sống chậm lại và lắng nghe, ta có thể nhận ra bao thông điệp của cuộc sống. Và một khi lắng nghe đã trở thành nhu cầu, tâm hồn mỗi người sẽ trở nên nhạy cảm, tinh tế hơn, biết trân trọng từng giây, từng phút của mỗi ngày và cuộc sống bớt đi sự tẻ nhạt,…
- Phải chăng, con người sẽ trưởng thành hơn trong cuộc sống nhờ học cách biết lắng nghe, thấu hiểu và đồng cảm.
* Trả lời câu hỏi bài mẫu
Câu 1 (trang 93 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bài viết đã tập trung bàn luận về vấn đề gì trong đời sống?
Trả lời:
Bài viết đã tập trung bàn luận về vấn đề lắng nghe trong cuộc sống.
- Bài viết tập trung bàn luận về ý nghĩa của việc biết lắng nghe những “tiếng thì thầm của cuộc sống”.
- Cụ thể, tác giả nhấn mạnh: con người cần biết lắng nghe để thấu hiểu, đồng cảm với người khác; biết lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên và cuộc sống quanh mình; từ đó sống nhân ái, tinh tế và có ý nghĩa hơn.
Câu 2 (trang 93 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Các luận điểm nào đã được tác giả triển khai? Các luận điểm có mối quan hệ với nhau như thế nào?
Trả lời:
Các luận điểm đã được tác giả triển khai:
- Bàn về nghĩa của từ lắng nghe.
- Bàn về việc lắng nghe nỗi buồn vui của con người với những bằng chứng thực tế.
- Bàn về việc lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên qua trải nghiệm.
- Phản bác ý kiến trái chiều.
- Bàn về ý nghĩa của việc lắng nghe.
Mối quan hệ giữa các luận điểm: Các luận điểm chính xác, phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề trình bày mạch lạc. Các luận điểm đều có vị trí riêng nhưng liên kết chặt chẽ với nhau, hô ứng với nhau, cùng đi tới làm sáng tỏ vấn đề một cách tập trung, toàn diện và đủ sức thuyết phục.
- Các luận điểm chính:
+ Luận điểm 1: Lắng nghe không chỉ là tiếp nhận âm thanh mà còn là sự thấu hiểu, đồng cảm.
+ Luận điểm 2: Biết lắng nghe tiếng nói của con người trong cuộc sống giúp ta biết sẻ chia, rung động trước niềm vui nỗi buồn của người khác.
+ Luận điểm 3: Thiên nhiên cũng có “tiếng nói” riêng; biết lắng nghe thiên nhiên giúp con người giao hoà với thế giới và biết trân trọng môi trường sống.
+ Luận điểm 4: Nếu không biết lắng nghe, cuộc sống sẽ trở nên khô khan, con người dễ cô đơn, vô cảm.
+ Luận điểm 5: Lắng nghe giúp con người sống sâu sắc hơn, biết quý trọng thời gian và những giá trị của cuộc sống.
- Mối quan hệ giữa các luận điểm:
+ Các luận điểm được triển khai theo trình tự logic: từ giải thích khái niệm “lắng nghe”, đến biểu hiện cụ thể trong đời sống con người và thiên nhiên, rồi phân tích hậu quả của việc không biết lắng nghe, cuối cùng khẳng định ý nghĩa tích cực của việc lắng nghe đối với sự trưởng thành của con người.
=> Các luận điểm liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau để làm nổi bật tư tưởng chủ đạo: Biết lắng nghe là biểu hiện của một tâm hồn nhân ái, tinh tế và giàu yêu thương.
Câu 3 (trang 93 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Hãy cho biết những lí lẽ và bằng chứng mà người viết đã sử dụng khi triển khai từng luận điểm.
Trả lời:
Luận điểm |
Lí lẽ |
Bằng chứng |
Bàn về nghĩa của từ lắng nghe. |
- Lắng nghe trước hết thể hiện sự tập trung tiếp nhận âm thanh từ bên ngoài. - Lắng nghe còn có nghĩa là thấu hiểu, đồng cảm. - Biết lắng nghe có nghĩa là có khả năng sẻ chia với những nghĩ suy, tâm tư khát vọng của người khác… |
- Chỉ khi lắng nghe, chúng ta mới nhận ra những tiếng thì thầm, khẽ khàng hay những âm thanh không lời. |
Bàn về việc lắng nghe nỗi buồn vui của con người với những bằng chứng thực tế. |
- Khi lắng nghe tiếng nói từ cuộc sống hằng ngày của con người, ta sẽ nhận thấy có những tiếng nói chỉ “thầm thì” thôi mà ẩn chứa biết bao cung bậc tình cảm. - Biết lắng nghe, ta sẽ biết xúc động, cùng vui cùng buồn với từng cảnh ngộ. - Lắng nghe những tiếng thì thầm, ta thấy con người và cuộc sống phong phú, đa dạng biết nhường nào. |
- Đó là lời tâm sự của một em bé … Tết gần về,… - Ta vui mừng … đến Ai Cập. |
Bàn về việc lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên qua trải nghiệm. |
- Thiên nhiên quanh ta cũng có tiếng nói. - Mỗi người cần lắng lòng lại để suy nghĩ đối diện với mẹ thiên nhiên vĩ đại. - Những âm thanh ấy giúp con người giao hòa cùng thiên nhiên. |
- Ta sẽ nhận ra những tiếng thì thầm của lá rơi khẽ khàng trước ngõ, của giọt sương long lanh… con người,… |
Phản bác ý kiến trái chiều. |
- Nhưng có phải vì sự “bé mọn” của những tiếng thì thầm ấy mà ta có thể bỏ qua chúng, bởi cuộc sống này còn biết bao điều đang khiến ta quan tâm. |
- Nếu không biết lắng nghe tiếng nói nhỏ bé của cuộc sống thì cuộc đời này sẽ trở nên nhạt nhẽo hoặc chỉ toàn âm thanh ồn ã, chát chúa. - Và sẽ chẳng còn những ánh mắt sẻ chia, những bàn tay đan kết, những cử chỉ dịu dàng gửi chút tấm lòng “để gió cuốn đi”. - Khi ấy,… náo nhiệt này. |
Bàn về ý nghĩa của việc lắng nghe. |
- Lắng nghe là để hiểu, để hành động và hướng tới những điều tốt đẹp: cảm nhận chân thực và biết trân quý hơn những giá trị sống quanh mình,… - Lắng nghe bằng cả tâm hồn, ta sẽ cảm nhận những gửi trao đầy ắp yêu thương. - Đó là sợi dây vô hình kết nối con người với nhau và con người với thế giới xung quanh. |
- Học cách lắng nghe từng tiếng tích tắc của đồng hồ trên vách, ta sẽ hiểu thời gian đang thì thầm nhắc mình về tuổi trẻ đang qua, về những khát vọng còn dang dở, để ta biết sống có ý nghĩa hơn. |
a. Luận điểm 1: Lắng nghe là thấu hiểu và đồng cảm
- Lí lẽ: Lắng nghe không chỉ là nghe âm thanh mà còn là khả năng sẻ chia với tâm tư, cảm xúc của người khác.
- Bằng chứng: Người viết giải thích ý nghĩa của “lắng nghe”, “thấu hiểu”, “đồng cảm”.
b. Luận điểm 2: Lắng nghe tiếng nói của con người giúp ta biết sẻ chia
- Lí lẽ: Những “tiếng thì thầm” trong cuộc sống chứa đựng nhiều nỗi niềm và cảm xúc.
- Bằng chứng: lời tâm sự của em bé nằm viện muốn được đi học; tiếng thở dài của người nông dân khi “được mùa rớt giá”; nỗi mong về quê của người lao động nghèo; nỗi đau của thân nhân các hành khách trên chuyến bay gặp nạn.
=> Những dẫn chứng thực tế làm tăng sức thuyết phục và tính nhân văn cho bài viết.
c. Luận điểm 3: Thiên nhiên cũng có tiếng nói riêng
- Lí lẽ: Thiên nhiên không vô tri mà luôn gửi đến con người những thông điệp.
- Bằng chứng: tiếng lá rơi, giọt sương, tiếng chim, tiếng rừng cây bị đốn hạ, tiếng thú vật sợ hãi.
=> Các hình ảnh giàu cảm xúc giúp người đọc cảm nhận thiên nhiên như một sinh thể sống động.
d. Luận điểm 4: Không biết lắng nghe sẽ khiến con người trở nên vô cảm
- Lí lẽ: Nếu chỉ sống giữa những âm thanh ồn ào mà bỏ qua những điều nhỏ bé, cuộc sống sẽ tẻ nhạt và thiếu yêu thương.
- Bằng chứng: “sẽ chẳng còn những ánh mắt sẻ chia”, “suối nguồn yêu thương cũng sẽ dần cạn kiệt”.
e. Luận điểm 5: Lắng nghe giúp con người sống ý nghĩa hơn
- Lí lẽ: Lắng nghe giúp con người cảm nhận sâu sắc giá trị cuộc sống.
- Bằng chứng: nghe tiếng tích tắc của đồng hồ để nhận ra thời gian trôi; từ đó biết quý tuổi trẻ và sống có ý nghĩa hơn.
Câu 4 (trang 93 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bạn có thể bổ sung điều gì cho bài viết?
Trả lời:
Có thể bổ sung luận điểm: Làm thế nào để học cách lắng nghe.
Có thể bổ sung thêm:
- Dẫn chứng thực tế trong đời sống hiện đại, chẳng hạn: nhiều người quá chú ý đến điện thoại, mạng xã hội nên không còn biết lắng nghe người thân; tình trạng vô cảm trước khó khăn của người khác.
- Dẫn chứng văn học hoặc nghệ thuật: những tác phẩm viết về sự đồng cảm, sẻ chia giữa con người với con người và với thiên nhiên.
- Giải pháp cụ thể: dành thời gian quan tâm gia đình, bạn bè; sống chậm lại;
hạn chế lệ thuộc vào công nghệ; học cách quan sát và cảm nhận cuộc sống bằng cả trái tim.
- Ngoài ra, bài viết có thể mở rộng thêm ý: lắng nghe chính bản thân mình cũng rất quan trọng, vì điều đó giúp con người hiểu mình và sống cân bằng hơn.
* Thực hành viết
1. Chuẩn bị viết
Bạn cần tìm kiếm vấn đề từ những nguồn khác nhau: từ trải nghiệm, suy nghĩ của bản thân về cuộc sống; từ sách báo, các phương tiện truyền thông;… từ đó, chọn một vấn đề mà bạn tâm đắc để làm đề tài cho bài viết.
Gợi ý:
- Vì sao học sinh cần tham gia các hoạt động sinh hoạt cộng đồng ở địa phương?
- Cách tổ chức cuộc sống cá nhân có vai trò như thế nào trong việc hoàn thiện nhân cách?
- Việc tiếp thu ý kiến của người khác có mâu thuẫn với việc khẳng định tính tự chủ của bản thân?
- Ý nghĩa của việc phát ngôn có trách nhiệm trong giao tiếp xã hội là gì?
2. Tìm ý, lập dàn ý
Tìm ý
Đọc lại bài viết tham khảo, tự đặt một số câu hỏi theo gợi ý sau để tìm ý:
- Bài viết bàn luận về vấn đề gì?
Vấn đề nghị luận bao giờ cũng phải được xác định từ đầu, nếu không bài viết sẽ không có định hướng.
- Những khía cạnh nào của vấn đề được bàn luận? Những khía cạnh đó tác động tích cực hay tiêu cực đến đời sống con người?
Câu hỏi này giúp người viết tìm ra các luận điểm cho bài viết.
- Những lí lẽ và bằng chứng nào cần huy động?
Câu hỏi này mang tính chất “ghi nhớ” để người viết không bỏ qua việc nêu lí lẽ và huy động bằng chứng giúp quan điểm, ý kiến được nêu có sức thuyết phục.
- Ý kiến trái chiều có thể có về vấn đề được bàn luận là gì? Có thể phản bác ý kiến đó như thế nào?
- Ý nghĩa của việc bàn luận về vấn đề là gì?
Lập dàn ý
Sau khi tìm được các ý, cần soát lại để sắp xếp một cách có hệ thống, logic, tương ứng với các phần trong bố cục của một bài văn nghị luận. Kết quả của sự sắp xếp đó sẽ là một dàn ý, có tác dụng định hướng cho quá trình viết bài.
Mở bài |
Giới thiệu vấn đề trong cuộc sống cần bàn luận. Có thể nêu vấn đề thông qua một câu chuyện, một tình huống đời sống, một câu hỏi nhận thức,… |
Thân bài |
Dùng lí lẽ và bằng chứng để: - Trình bày bản chất của vấn đề đời sống được bàn luận và nêu quan điểm của người viết. - Xem xét vấn đề dưới nhiều góc nhìn khác nhau, bàn về các khía cạnh của vấn đề. - Bàn luận vấn đề từ góc nhìn trái chiều. - Phân tích tác động của việc nhận thức đúng đắn về vấn đề đối với cá nhân hoặc cộng đồng. |
Kết bài |
Rút ra ý nghĩa của việc bàn luận vấn đề (gợi mở suy nghĩ, định hướng hành động,…). |
Dàn ý cho đề bài: Phải chăng sống ảo có nguy cơ đánh mất giá trị thực?
I. Mở bài:
- Sự ra đời của các trang mạng xã hội, tiêu biểu nhất là Facebook, dần mang con người rời xa khỏi thế giới thực tại mà đắm chìm vào thế giới ảo, ngày càng có nguy cơ đánh mất những giá trị thực trong cuộc sống.
II. Thân bài:
* Khái niệm:
- “Sống ảo” hẳn là khái niệm không còn xa lạ gì với chúng ta, đó là lối sống chuộng hình thức, thậm chí nói hơi nặng lời thì đó là một cuộc sống toàn dối lừa. Người ta tự tô vẽ, tự tạo cho mình một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc, khác hẳn với những gì mà bản thân họ đang có ở thực tại.
- Facebook, sau là Instagram, Twitter, Zalo,... chính là các công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc “ảo” của các tín đồ “sống ảo”.
- “Giá trị thực” ở đây mang hàm nghĩa rất rộng, bao gồm tất cả những gì ngoài cuộc sống thực của con người, cả niềm vui, nỗi buồn, từ những điều tốt đẹp cho đến những góc xấu xí nhất trong tâm hồn. Đó là thứ phản ánh rõ ràng nhất nhân cách, đạo đức và tâm hồn của một cá nhân.
* Thực trạng sống ảo:
- Nhưng có một điều rất đáng quan ngại rằng dường như con người đang dần rời xa những “giá trị thực” để chăm chăm vào việc “sống ảo” nhiều hơn.
+ Thích kết bạn qua mạng, yêu qua mạng
+ Xây cho mình những cái vỏ tuyệt vời, là nơi để thỏa sức thể hiện bản thân, bằng cách khoe khoang sự giàu có, sự hạnh phúc, phô bày vẻ đẹp của bản thân, để mong được sự chú ý.
+ Ai cũng tự tin bày tỏ quan điểm ý kiến, sẵn sàng chửi rủa lăng nhục, cười nhạo một cá nhân nào khác, để lại những tổn thương tâm lý sâu sắc cho nạn nhân, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, khiến nạn nhân, chán chường, trầm cảm, tự tử.
+ Tạo scandal, phát ngôn gây sốc để nổi tiếng, chia sẻ những thông tin phản cảm, văn hóa phẩm đồi trụy một cách tràn lan mà chẳng quan tâm ai sẽ bắt gặp chúng, họ chỉ cần biết mình được tung hô, tán tụng, được bao nhiêu “like”, bao nhiêu “comment”, còn ai như nào không cần quan tâm.
* Hậu quả:
+ Ảo tượng giá trị của bản thân, dễ dàng suy sụp chỉ vì một lời chê bai bâng quơ.
+ Quên đi hết thực tại cuộc sống vốn khó khăn như nào, quên đi hết những tình cảm quý giá như tình thân, tình cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
+ Họ trở nên vô cảm, vô tâm, không còn quan tâm đến thế giới thực tại, từ chối hòa nhập vào xã hội thực tế, dẫn tới khi bước vào làm việc, mưu sinh họ bị chông chênh, không có kinh nghiệm sống và ứng xử, nên rất dễ bị đào thải, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống tương lai.
+ Khiến cho tâm hồn con người trở nên nghèo nàn, kiến thức và vốn sống hạn hẹp, cả thế giới chỉ thu lại vào trang mạng xã hội, khiến con người trở nên lười biếng, lãng phí thời gian, bỏ qua nhiều cơ hội tu dưỡng, nâng cao tri thức, thay đổi bản thân.
* Bài học:
- Nhận thức được tác hại của việc “sống ảo”, mỗi cá nhân chúng ta cần ý thức được hành động của bản thân.
- Mạng xã hội không xấu, thậm chí có rất nhiều lợi ích, nhưng chúng ta phải biết sử dụng sao cho hợp lý, đừng có đắm chìm vào đó, mải mê xây dựng những giá trị “ảo”, mà bỏ rơi những “giá trị thực”.
- Đừng để việc “sống ảo” dần giết chết cả tâm hồn và thể xác chúng ta, hãy biết cách tận dụng mạng xã hội một cách hiệu quả nhất, đừng chỉ mải mê chạy theo những xu hướng, trào lưu và ảo tưởng về bản thân.
III. Kết bài:
- Hiện tượng sống ảo, đặc biệt là ở giới trẻ đang dần kéo con người rời xa và đánh mất đi những giá trị thực, có ý nghĩa cho cuộc đời.
- Hãy có những nhận thức đúng đắn và biết cân bằng giữa thế giới ảo và thế giới thực.
- Đừng để cán cân tâm hồn rơi hẳn vào thế giới ảo.
3. Viết
- Mở bài và kết bài viết thành đoạn văn hoàn chỉnh. Mở bài giới thiệu hấp dẫn vấn đề của cuộc sống để bàn luận; Kết bài khép lại việc bàn luận một cách có ấn tượng.
- Mỗi luận điểm ở phần Thân bài cần rõ ràng, thể hiện được ý thức của người viết về mối quan hệ giữa con người với cuộc sống xung quanh. Bằng chứng cần lấy từ những trải nghiệm thực tế của bản thân và các thông tin thu thập được từ sách báo, các phương tiện truyền thông.
- Có thể soi chiếu vấn đề từ các góc nhìn khác nhau; nêu ý kiến phản biện đối với những quan điểm chưa thỏa đáng; mở rộng, đối chiếu, liên hệ với những vấn đề có liên quan.
- Văn phong cần sáng rõ, phù hợp với đối tượng tiếp nhận và nội dung vấn đề.
* Bài viết mẫu tham khảo:
Xã hội càng phát triển, khoa học công nghệ càng hiện đại thì cuộc sống con người cũng càng phức tạp, giả dối. Những năm gần đây, khái niệm sống ảo đã ra đời và ngày càng trở nên phổ biến, quen thuộc đối với mọi người, đặc biệt là giới trẻ. Có thể nói, việc sống ảo làm có nguy cơ đánh mất các giá trị thực. Ý kiến ấy là rất đúng về hiện tượng này.
Sống ảo là việc con người sống khác, khác bản thân mình, khác thực tế. Có thể coi sống ảo là một dạng phô bày không giống với sự thật lắm. Sống ảo thường được thể hiện qua các phương tiện của mạng xã hội như facebook, instagram, zalo, twitter, weibo. Trên những trang mạng xã hội này người ta thường xuyên đăng tải những bức hình khác thực tế, những dòng trạng thái status cũng khác thực tế nhằm đánh lạc hướng suy nghĩ và nhận thức của mọi người.
Có thể thấy việc sống ảo nhiều nhất là khi các bạn trẻ sử dụng các công cụ make up, chụp hình, chỉnh hình làm đẹp rồi đăng tải trên mạng xã hội khiến mọi người lầm tưởng về vẻ đẹp, ngoại hình của mình. Rồi họ đăng tải những dòng trạng thái cũng giả dối để đánh lừa mọi người chẳng hạn như là “Đang ở một nơi rất xa” (thực ra là ở nhà), “Rảnh được đưa đi ăn” (thực ra là tự đi)… Những người sống ảo đăng hình và trạng thái thường nhằm mục đích PR cho bản thân mình, khoe khoang về bản thân: ngoại hình, thành tích, sự giàu có, sự nổi tiếng… Người ta đăng hình ảnh, trạng thái từ không đúng lắm so với thực tế cho đến khác xa thực tế, sai sự thực hoàn toàn để được mọi người, bạn bè trên mạng xã hội trầm trồ, thán phục, khen ngợi.
Sống ảo có tính chất lây lan và gây nghiện. Người sống ảo lâu dần hình thành một thói quen khó bỏ. Trước khi ăn bao giờ cũng phải lôi điện thoại ra chụp lại hình, đi chơi ở đâu bao giờ cũng chụp hình post facebook đầu tiên. Thậm chí trong những hoàn cảnh không phù hợp cũng lôi điện thoại ra check in sống ảo. Thế giới ảo bao quanh chúng ta, khiến mọi người không còn phân biệt được. Dần dần con người quên đi những giá trị thực tế, quên đi những điều rất bình dị trong cuộc sống. Sống ảo dẫn con người đến những giá trị giả dối, khiến con người dần quên mất thực tại, nhầm lẫn giữa thực tại và thế giới ảo. Nhiều người lợi dụng các công cụ mạng xã hội để bán hàng, lừa lọc bằng những hình ảnh, lời lẽ văn hoa, hào nhoáng. Rất nhiều chàng trai, cô gái đã tỏ ra vô cùng bất ngờ khi người bạn mình gặp gỡ quen biết qua mạng xã hội lại khác xa thực tế. Người ta thất vọng, chê bai thậm chí là làm nhục nhau. Bởi vì quen biết nhau qua những thước hình lung linh trên mạng, không ít bạn trẻ đã bị lừa lọc, bị dụ dỗ dẫn đến những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra.
Bởi vì hiện tượng sống ảo đang ngày càng trở nên phổ biến nên con người cũng dần đa nghi với những gì xảy ra quanh mình. Nhìn một tấm hình, nghe một lời quảng cáo, người ta thường hỏi “Có thật không đấy”, “ở ngoài thế nào”… Có lẽ, vì sống ảo nhiều nên chính ta cũng đang dần mất niềm tin vào con người và dễ thất vọng với những gì xung quanh.
Mạng xã hội là một công cụ hữu ích, làm đẹp mình cũng là việc nên làm nhưng nếu cứ sống ảo, cứ giả dối như vậy sẽ chỉ khiến chúng ta dần làm mất đi giá trị thật của chính bản thân mình. Vì vậy mỗi người cần sáng suốt, tỉnh táo và nên bài trừ việc sống ảo, hãy để những gì chân thật được trở lại là chính nó.
Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của con người, đặc biệt là giới trẻ. Các nền tảng như Facebook, TikTok, Instagram… không chỉ là nơi giao lưu, kết nối mà còn là công cụ học tập, làm việc hiệu quả. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội như thế nào cho hợp lí lại là một vấn đề đáng suy ngẫm.
Trước hết, không thể phủ nhận những lợi ích mà mạng xã hội mang lại. Nó giúp con người kết nối dễ dàng hơn, vượt qua mọi khoảng cách địa lí. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, ta có thể trò chuyện với bạn bè, người thân ở bất cứ đâu. Bên cạnh đó, mạng xã hội còn là nguồn cung cấp thông tin phong phú, đa dạng, giúp người trẻ cập nhật kiến thức, xu hướng mới một cách nhanh chóng. Nhiều bạn trẻ còn tận dụng mạng xã hội để học tập, kinh doanh, phát triển bản thân và đạt được những thành công nhất định.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, việc sử dụng mạng xã hội thiếu kiểm soát cũng gây ra nhiều hệ lụy đáng lo ngại. Trước hết là tình trạng “nghiện mạng xã hội”, khiến nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho thế giới ảo mà quên đi cuộc sống thực. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, học tập và các mối quan hệ ngoài đời. Ngoài ra, mạng xã hội còn là môi trường dễ phát tán thông tin sai lệch, tin giả, gây hoang mang dư luận. Một số người còn lợi dụng mạng xã hội để công kích, bôi nhọ người khác, dẫn đến những tổn thương tâm lí nghiêm trọng.
Nguyên nhân của thực trạng này một phần xuất phát từ ý thức của người sử dụng, đặc biệt là giới trẻ. Nhiều bạn chưa có khả năng chọn lọc thông tin, chưa biết kiểm soát thời gian và hành vi của mình trên mạng. Bên cạnh đó, sự thiếu định hướng từ gia đình và nhà trường cũng khiến việc sử dụng mạng xã hội trở nên lệch lạc.
Vậy làm thế nào để sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả và lành mạnh? Trước hết, mỗi người cần nâng cao ý thức cá nhân, biết sử dụng mạng xã hội có chọn lọc và điều độ. Cần xác định rõ mục đích sử dụng, tránh lãng phí thời gian vào những nội dung vô bổ. Đồng thời, phải trang bị cho mình kĩ năng nhận diện thông tin sai lệch, không chia sẻ hay lan truyền những nội dung chưa được kiểm chứng. Gia đình và nhà trường cũng cần có sự quan tâm, định hướng đúng đắn để giúp giới trẻ hình thành thói quen sử dụng mạng xã hội tích cực.
Tóm lại, mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Nếu biết sử dụng đúng cách, nó sẽ trở thành công cụ hữu ích giúp con người phát triển. Ngược lại, nếu lạm dụng, nó có thể gây ra nhiều hậu quả tiêu cực. Vì vậy, mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, cần có ý thức và trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội, để biến nó thành phương tiện phục vụ cuộc sống, chứ không phải là thứ chi phối cuộc sống của mình.
Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người trẻ thường đặt ra những mục tiêu lớn cho tương lai như học giỏi, thành công hay trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận ra rằng hành trình hoàn thiện bản thân lại bắt đầu từ những điều rất nhỏ bé, gần gũi trong đời sống hằng ngày: cách sắp xếp thời gian, xây dựng thói quen hay tổ chức cuộc sống cá nhân. Có người sống ngăn nắp, khoa học nên luôn chủ động và tích cực; cũng có người sống tuỳ tiện, thiếu kế hoạch nên dễ chán nản, buông xuôi. Điều đó cho thấy cách tổ chức cuộc sống cá nhân có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách của mỗi con người.
Trước hết, cần hiểu “cách tổ chức cuộc sống cá nhân” là cách mỗi người sắp xếp thời gian, công việc, học tập, nghỉ ngơi và các mối quan hệ của mình sao cho hợp lí. Còn “nhân cách” là tổng hòa những phẩm chất đạo đức, lối sống, cách ứng xử và giá trị tinh thần của con người. Giữa hai yếu tố ấy có mối liên hệ chặt chẽ. Một người biết tổ chức cuộc sống khoa học thường cũng là người có ý thức trách nhiệm, biết tự quản lí bản thân và sống tích cực. Ngược lại, lối sống bừa bộn, thiếu kỉ luật dễ khiến con người trở nên thụ động, thiếu ý chí và khó hoàn thiện bản thân.
Cách tổ chức cuộc sống cá nhân trước hết giúp con người rèn luyện tính kỉ luật. Khi biết lập kế hoạch học tập, sinh hoạt đúng giờ hay kiên trì với mục tiêu đã đặt ra, con người sẽ dần hình thành ý thức trách nhiệm đối với bản thân và công việc. Một học sinh biết tự sắp xếp thời gian học tập hợp lí sẽ tránh được tình trạng học đối phó hay nước đến chân mới nhảy. Từ những việc nhỏ như dậy đúng giờ, hoàn thành bài tập đúng hạn hay giữ góc học tập gọn gàng, mỗi người đang từng bước rèn luyện sự nghiêm túc và tính tự giác cho mình. Đây đều là những phẩm chất quan trọng của nhân cách.
Không chỉ vậy, việc tổ chức cuộc sống khoa học còn giúp con người sống cân bằng và tích cực hơn. Trong xã hội hiện đại, nhiều người trẻ bị cuốn vào mạng xã hội, trò chơi điện tử hay những thú vui thiếu lành mạnh vì không biết quản lí thời gian và cảm xúc cá nhân. Khi cuộc sống thiếu kế hoạch, con người dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, chán nản, mất phương hướng. Ngược lại, một người biết cân đối giữa học tập, nghỉ ngơi và các hoạt động trải nghiệm sẽ có đời sống tinh thần lành mạnh hơn. Chính sự cân bằng ấy giúp con người biết yêu thương bản thân, biết quan tâm tới gia đình và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
Bên cạnh đó, cách tổ chức cuộc sống còn thể hiện thái độ sống của mỗi người. Người sống ngăn nắp, đúng giờ, biết quý trọng thời gian thường cũng biết tôn trọng người khác. Trái lại, người sống tuỳ tiện, thiếu kế hoạch dễ làm ảnh hưởng đến tập thể và các mối quan hệ xung quanh. Vì thế, tổ chức cuộc sống cá nhân không chỉ là chuyện riêng của mỗi người mà còn góp phần tạo nên nếp sống văn minh trong cộng đồng.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng nhân cách con người chủ yếu được quyết định bởi hoàn cảnh sống hoặc giáo dục gia đình chứ không phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức đời sống cá nhân. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Gia đình và môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách, nhưng bản thân mỗi người mới là yếu tố quyết định. Nếu không có ý thức tự rèn luyện, con người khó có thể trưởng thành dù sống trong điều kiện tốt. Ngược lại, nhiều người dù xuất phát điểm khó khăn nhưng nhờ biết tổ chức cuộc sống hợp lí, kiên trì với mục tiêu nên vẫn hoàn thiện được bản thân và đạt được thành công.
Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương cho thấy vai trò của lối sống khoa học đối với sự phát triển nhân cách. Những người thành công thường là những người biết quản lí thời gian hiệu quả, sống có nguyên tắc và kiên trì với mục tiêu của mình. Đối với học sinh, việc xây dựng thời gian biểu hợp lí, duy trì thói quen đọc sách, luyện tập thể thao hay tham gia hoạt động tập thể đều là những cách giúp rèn luyện nhân cách tích cực.
Nhận thức đúng về vai trò của cách tổ chức cuộc sống cá nhân sẽ giúp mỗi người chủ động hoàn thiện bản thân từng ngày. Đặc biệt với học sinh, đây là giai đoạn rất quan trọng để hình thành thói quen và lối sống. Nếu biết sống có kế hoạch, có trách nhiệm và biết cân bằng cuộc sống, chúng ta sẽ không chỉ học tập hiệu quả hơn mà còn trở thành những con người trưởng thành, bản lĩnh và nhân ái hơn trong tương lai.
Có thể nói, cách tổ chức cuộc sống cá nhân giống như nền móng của một ngôi nhà. Nền móng vững chắc sẽ giúp con người xây dựng được nhân cách tốt đẹp và cuộc sống ý nghĩa. Vì vậy, mỗi người trẻ hôm nay cần học cách sống khoa học, kỉ luật và tích cực từ những điều nhỏ nhất. Chính những thói quen bình thường hằng ngày sẽ góp phần tạo nên con người của chúng ta trong tương lai.
4. Chỉnh sửa, hoàn thiện.
Đối chiếu bài viết với yêu cầu của kiểu bài và dàn ý đã lập để phát hiện những nội dung cần bổ sung, các lỗi cần chỉnh sửa nhằm hoàn thiện bài viết. Cụ thể:
- Chỉnh sửa Mở bài nêu vấn đề của cuộc sống chưa được nêu rõ ràng.
- Kiểm tra lí lẽ, bằng chứng đã sử dụng nếu thấy chưa đầy đủ, chưa gắn với vấn đề đời sống được bàn luận, cần chỉnh sửa, bổ sung.
- Xem xét sự khái quát ý nghĩa của việc bàn luận vấn đề ở phần Kết bài để bổ sung ý hoặc chỉnh sửa nếu thấy chưa đạt.
- Hoàn chỉnh những ý còn sơ sài, kiểm tra sự liên kết trong từng đoạn và trong bài để bổ sung phương tiện liên kết phù hợp.
- Rà soát để sửa lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (từ ngữ, câu văn, đoạn văn) nếu phát hiện được.