Soạn bài Tôi có một ước mơ - Kết nối tri thức

4,210 từ~22 phút đọc

Soạn bài Tôi có một ước mơ - Kết nối tri thức

Với soạn bài Tôi có một ước mơ trang 79, 80, 81, 82, 83, 84 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.

Soạn bài Tôi có một ước mơ - Kết nối tri thức

* Trước khi đọc

Câu hỏi 1 (trang 79 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Trong lịch sử của dân tộc, có những trường hợp một văn kiện chính trị lại trở thành một áng văn chương có sức lay động lớn. Bạn hãy kể tên một vài tác phẩm như vậy.

Trả lời:

Trong lịch sử của dân tộc, có những trường hợp một văn kiện chính trị lại trở thành một áng văn chương có sức lay động lớn. Một vài tác phẩm như:

- Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

- Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới – Vũ Khoan

- Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục – Hồ Chí Minh

Một tác phẩm tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Đây vốn là một văn kiện chính trị nhằm tuyên bố chiến thắng và độc lập dân tộc sau cuộc kháng chiến chống quân Minh. Tuy nhiên, tác phẩm lại có giá trị văn chương sâu sắc với giọng điệu hào hùng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ giàu cảm xúc. Đặc biệt, những câu như “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” đã thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp, khiến tác phẩm không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn lay động lòng người qua nhiều thế hệ.

Câu hỏi 2 (trang 79 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nhiều nhân vật lịch sử đã thể hiện niềm ước mơ về hạnh phúc cho nhân dân, bình yên cho đất nước trong những câu thơ, câu văn hoặc những lời phát biểu đầy tâm huyết. Bạn hãy nêu một ví dụ cụ thể để chứng minh ý kiến trên.

Trả lời:

Ví dụ cụ thể về câu nói của nhân vật lịch sử thể hiện niềm ước mơ về hạnh phúc cho nhân dân, bình yên cho đất nước trong những câu thơ, câu văn hoặc những lời phát biểu đầy tâm huyết:

“...Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!” (Hồ Chí Minh – Tuyên ngôn độc lập).

Một ví dụ tiêu biểu là Hồ Chí Minh. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Người đã khẳng định quyền tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện khát vọng về một đất nước độc lập, nhân dân được sống ấm no, hạnh phúc. Những lời văn của Người vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa chứa đựng tình cảm sâu sắc, thể hiện rõ ước mơ lớn lao vì dân, vì nước.

* Đọc văn bản

Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc

1. Xác định mục đích hướng tới của tác giả ở bài diễn văn này.

Mục đích: Cuộc biểu tình cho tự do như là một sự kiện tuyệt vời nhất sẽ đi vào lịch sử đất nước của chúng ta.

Mục đích của tác giả là kêu gọi chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc và đòi quyền bình đẳng cho người da đen ở Mỹ.

2. Ý nghĩa của việc dẫn ra văn kiện lịch sử nổi tiếng của nước Mỹ là gì?

- Thể hiện sự tôn trọng sắc lệnh của Mỹ

- Dùng cách lập luận gậy ông đập lưng ông để đấu tranh cho tự do của những người da đen.

- Thể hiện khát vọng tự do, bình đẳng của những người da đen.

- Việc nhắc đến Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ nhằm tạo cơ sở pháp lí và lịch sử cho lập luận của tác giả.

- Điều đó giúp khẳng định rằng quyền tự do của người da đen đã được công nhận từ trước, nhưng chưa được thực hiện đầy đủ.

- Đồng thời, việc dẫn chứng này còn nhằm tăng sức thuyết phục, vì nó gắn vấn đề hiện tại với một giá trị đã được thừa nhận rộng rãi.

- Qua đó, tác giả cũng phê phán thực trạng xã hội Mỹ khi chưa thực hiện đúng những cam kết về tự do và bình đẳng.

3. Theo dõi cách tác giả nói về thời điểm cần thiết để đòi công lí.

Thời điểm cần thiết để đòi công lý: Ngay bây giờ.

- Tác giả khẳng định đây là thời điểm cấp bách, không thể trì hoãn để thực hiện công lí. Ông nhấn mạnh: “Đây không còn là lúc để làm dịu…”, mà là lúc hành động quyết liệt.

- Tác giả liên tục lặp cấu trúc “Đây là lúc…” để:

+ Nhấn mạnh tính cấp thiết

+ Kêu gọi hành động ngay lập tức

- Ông còn cảnh báo rằng nếu bỏ lỡ thời điểm này, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng đối với đất nước.

4. Chú ý quan điểm đấu tranh của tác giả.

Quan điểm đấu tranh của tác giả: Đừng tìm cách thỏa mãn cơn khát tự do bằng những chén hận thù và cay đắng. Chúng ta phải luôn luôn tranh đấu với nguyên tắc và lòng tự trọng cao. Chúng ta không được phép để cuộc phản kháng sáng tạo của chúng ta nhuốm màu bạo lực. Chúng ta phải tiến lên uy nghi với cả sức mạnh vật chất và tâm hồn.

- Tác giả chủ trương đấu tranh kiên quyết nhưng ôn hòa, không sử dụng bạo lực. Ông nhấn mạnh rằng không được để cuộc đấu tranh “nhuốm màu bạo lực”.

- Đồng thời, ông kêu gọi người da đen phải:

+ Giữ phẩm giá, lòng tự trọng

+ Đấu tranh bằng tinh thần và đạo lí

- Điều này cho thấy một quan điểm tiến bộ: đấu tranh vì công lí nhưng vẫn giữ nhân văn và văn minh.

5. Qua cách diễn đạt và đưa bằng chứng, tác giả đã thể hiện thái độ và tình cảm của mình như thế nào?

Thái độ và tình cảm của tác giả: Sự phẫn nộ và tinh thần đấu tranh của tác giả trước những sự việc người da đen bị phân biệt đối xử. Từ đó, tác giả thể hiện niềm mong ước tự do bình đẳng cho người da đen.

- Tác giả thể hiện sự bức xúc, đau xót trước thực trạng bất công mà người da đen phải chịu đựng. Ông đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể như:

+ Không được tự do đi lại

+ Không có quyền bầu cử

+ Bị phân biệt trong đời sống

- Đồng thời, ông cũng thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào tương lai và công lí.

- Cách diễn đạt giàu cảm xúc, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng đã thể hiện:

→ tấm lòng chân thành, tha thiết vì quyền con người.

6. Chú ý ngôn ngữ và giọng điệu của tác giả khi thể hiện niềm tin và ước mơ.

Ngôn ngữ và giọng điệu: sử dụng những hình ảnh, câu văn có sức truyền cảm; lập luận chặt chẽ, thuyết phục.

- Ngôn ngữ mang tính truyền cảm, giàu hình ảnh và nhịp điệu.

- Tác giả sử dụng điệp cấu trúc “Tôi mơ rằng…” để:

+ Nhấn mạnh khát vọng

+ Tạo âm hưởng mạnh mẽ, lay động

- Giọng điệu:

+ Thiết tha, xúc động nhưng đầy hi vọng

+ Thể hiện niềm tin vững chắc vào một tương lai bình đẳng

- Những hình ảnh như:

+ Trẻ em da đen và da trắng cùng sống hòa hợp

+ Xã hội không còn phân biệt màu da

7. Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng nhằm tác động mạnh đến người đọc, người nghe?

Biện pháp điệp ngữ: Tôi mơ rằng.

- Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ như: Điệp ngữ: “Tôi mơ rằng…”, “Hãy để tự do ngân vang…”

- Những biện pháp này giúp:

+ Tăng tính nhấn mạnh

+ Tạo nhịp điệu hùng hồn

+ Gây xúc động mạnh

8. Bạn có ấn tượng, cảm xúc gì về đoạn kết?

Đoạn kết đã khẳng định lại quan điểm của Mác-tin Lu-thơ Kinh là người da đen được đối xử bình đẳng với người da trắng. Tác giả dẫn ra câu hát “Tự do cuối cùng đã đến! Tự do cuối cùng đã đến! Tạ ơn Đức Chúa Đấng Tạo Hóa Toàn Năng, cuối cùng chúng ta đã được tự do!” để thể hiện ước mơ về quyền bình đẳng của người da đen.

- Đoạn kết gây ấn tượng mạnh bởi giọng điệu hào hùng, đầy cảm xúc.

- Việc lặp lại “Hãy để tự do ngân vang…” tạo nên âm hưởng như một lời hiệu triệu mạnh mẽ. Thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai, khát vọng tự do, bình đẳng cho tất cả mọi người.

* Sau khi đọc

Nội dung chính

Văn bản là bài diễn văn nổi tiếng nhất của Mác-tin Lu-thơ Kinh khi ông nói, với sức mạnh thuyết phục của tài hùng biện, về ước mơ của ông cho tương lai của nước Mỹ, khi người da trắng và người da đen có thể sống chung hòa thuận như những con người.

Soạn bài Tôi có một ước mơ | Hay nhất Soạn văn 11 Kết nối tri thức

Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc

Câu 1 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Vấn đề trọng tâm được đề cập ở văn bản Tôi có một ước mơ là gì?

Trả lời:

Vấn đề trọng tâm được đề cập ở văn bản Tôi có một ước mơ: khẳng định quyền bình đẳng của người da đen và kêu gọi sự đấu tranh giành quyền bình đẳng cho người da đen.

- Văn bản tập trung vào vấn đề đòi quyền tự do, bình đẳng cho người da đen ở nước Mỹ.

- Tác giả nhấn mạnh thực trạng: dù đã có “Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ”, nhưng “một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do”.

- Qua đó, ông đặt ra yêu cầu cấp thiết: phải thực hiện công lí và chấm dứt phân biệt chủng tộc.

Câu 2 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chỉ ra các luận điểm được tác giả triển khai trong văn bản.

Trả lời:

Các luận điểm được tác giả triển khai trong văn bản:

- Cần lên tiếng về thảm trạng người da đen bị đối xử bất công.

- Trong quá trình chiến đấu giành lại địa vị xứng đáng của mình, những người đấu tranh không được phép hành động sai lầm.

- Chỉ khi người da đen được đối xử bình đẳng thì cuộc đấu tranh mới dừng lại.

- Tác giả khẳng định quyền tự do của người da đen đã được công nhận nhưng chưa được thực hiện.

- Tác giả chỉ ra thực trạng bất công, phân biệt chủng tộc kéo dài (“cuộc sống của người da đen vẫn bị trói trong gông cùm xiềng xích…”).

- Tác giả nhấn mạnh tính cấp bách của việc đấu tranh (“Đây là lúc…”).

- Tác giả đưa ra quan điểm đấu tranh đúng đắn: không bạo lực, giữ phẩm giá.

- Cuối cùng, tác giả thể hiện niềm tin và ước mơ về một xã hội bình đẳng, tự do.

Câu 3 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân tích cách tác giả dùng lí lẽ và bằng chứng để trình bày quan điểm của mình nhằm thuyết phục người nghe, người đọc.

Trả lời:

Những lí lẽ và bằng chứng tác giả sử dụng để trình bày quan điểm của mình được trình bày sắp xếp theo thứ tự của một quá trình đấu tranh, mang tính liên kết cao.

Lí lẽ

Bằng chứng

- Một trăm năm trước, Lin-cơn đã ký bản Tuyên ngôn Giải phóng nô lệ.

- Nhưng một trăm năm sau người da đen vẫn chưa được tự do.


Người da đen vẫn bị thít chặt trong gông cùm của luật cách li và xiềng xích của óc kì thị, vẫn phải sống trong một hoang đảo nghèo đói giữa đại dương bao la của sự phồn thịnh vật chất và vẫn phải sống mòn trong những góc khuất của xã hội Mỹ, thấy mình chỉ là kẻ lưu vong ngay trên quê hương mình

- Không được để cho cuộc phản kháng đầy sáng tạo sa vào bạo loạn.

- Tinh thần chiến đấu quật cường mới vừa trào sôi trong cộng đồng người da đen không được đẩy đến chỗ ngờ vực tất cả người da trắng.

Có rất nhiều người da trắng đã nhận ra vận mệnh của họ gắn liền với vận mệnh của người da đen, rằng tự do của họ không thể tách rời với tự so của người da đen.

Giấc mơ bắt nguồn sâu thẳm trừ trong giấc mơ của nước Mỹ (niềm tin rằng nước Mỹ luôn tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, bất kể xuất thân, hoàn cảnh, địa vị xã hội,...

Không bao giờ hài lòng khi:

- Người da đen vẫn còn là những nạn nhân câm lặng của vấn nạn bạo lực từ cảnh sát.

- Sau chặng đường dài mệt mỏi, không thể tìm được chốn nghỉ chân trong quán trọ ven xa lộ hay khách sạn trong thành phố.

- Con cái người da đen bị tước đoạt nhân phẩm và lòng tự trọng bởi những tấm biển đề "Chỉ dành cho người da trắng".

- Người da đen ở Mi-xi-xi-pi không có quyền bầu cử, người da đen ở Niu Oóc tin rằng đi bà cũng chẳng để làm gì.

- Tác giả sử dụng lí lẽ dựa trên cơ sở lịch sử và pháp lí, khi nhắc đến “Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ”.

- Ông đưa ra bằng chứng thực tế: “người da đen vẫn phải sống trong gông cùm xiềng xích”; “không thể thuê được phòng nghỉ…”, “không được quyền bầu cử”

- Các dẫn chứng cụ thể, gần gũi giúp làm rõ mức độ bất công.

- Lí lẽ được triển khai theo trình tự: quá khứ (lời hứa) → hiện tại (thực trạng) → tương lai (cần hành động)

- Nhờ đó, lập luận trở nên logic, chặt chẽ và giàu sức thuyết phục.

Câu 4 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Trong đoạn kết của văn bản, tác giả đã bộc lộ ước mơ gì? Hình ảnh “tự do ngân vang từ những đỉnh đồi, […] ngọn núi” có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện ý tưởng và cảm xúc của tác giả?

Trả lời:

- Trong đoạn kết của văn bản, tác giả đã bộc lộ ước mơ về sự tự do và bình đẳng.

- Hình ảnh “tự do ngân vang từ những đỉnh đồi, […] ngọn núi” có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện ý tưởng và cảm xúc của tác giả. Tác giả tin rằng nước Mỹ luôn tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, bất kể xuất thân, hoàn cảnh, địa vị xã hội,...

- Ở đoạn kết, tác giả bộc lộ ước mơ:

+ Mọi người sống bình đẳng

+ Trẻ em da đen và da trắng cùng nắm tay nhau

+ Nước Mỹ trở thành quốc gia tự do, công bằng

- Hình ảnh “Hãy để tự do ngân vang từ những đỉnh đồi…”:

+ Là ẩn dụ cho sự lan tỏa của tự do trên khắp đất nước

+ Việc liệt kê nhiều địa danh thể hiện: khát vọng tự do phải phủ khắp mọi miền nước Mỹ

- Hình ảnh này góp phần thể hiện niềm tin mạnh mẽ và cảm xúc dâng trào của tác giả.

Câu 5 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ (điệp ngữ, ẩn dụ,…) đã được tác giả sử dụng.

Trả lời:

- Biện pháp điệp ngữ: Tôi có một ước mơ, Chúng ta, Đây là lúc…

- Biện pháp ẩn dụ: Thoát khỏi bóng đêm và thung lũng hoang tàn của sự phân biệt chủng tộc, con đường chan hòa ánh nắng của sự bình đẳng về chủng tộc, vùng cát lún của sự bất công,…

=> Tác dụng: Biện pháp tu từ giúp nhấn mạnh thái độ và tình cảm của tác trước những sự việc người da đen bị đối xử phân biệt, bất công. Từ đó bày tỏ ước mơ về tự do và nhân quyền trước công chúng của tác giả, kêu gọi quyền bình đẳng cho những người da đen. Đồng thời làm tăng sức biểu đạt cho câu văn.

- Tác giả sử dụng:

+ Điệp ngữ: “Tôi mơ rằng…”, “Hãy để tự do ngân vang…”

+ Ẩn dụ: “gông cùm xiềng xích”, “ánh sáng của công lí”

+ Liệt kê: các bang, địa danh nước Mỹ

- Hiệu quả:

+ Tạo nhịp điệu hùng hồn, dễ nhớ

+ Nhấn mạnh nội dung quan trọng

+ Gây xúc động mạnh cho người nghe

+ Làm cho bài diễn văn giàu sức truyền cảm và lay động.

Câu 6 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả đối với nước Mỹ qua văn bản.

Trả lời:

Thái độ, tình cảm của tác giả đối với nước Mỹ qua văn bản:

Mỹ là một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa. Tuy nhiên, ẩn sau bức màn văn hóa đó bao năm qua vẫn âm ỉ tình trạng phân biệt sắc tộc, đặc biệt là sự kỳ thị của những người Mỹ da trắng với cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Chính vì lẽ đó, tác giả muốn tất cả mọi người dân đều được sống trong một đất nước tự do bình đẳng để đất nước có thể phát triển. Từ đó, bộ lộ tình cảm sâu sắc của tác giả với đất nước Mỹ và người dân Mỹ gốc Phi bị đối xử phân biệt. Vì thế, nước Mỹ cần có những chính sách và hành động quyết liệt để ước mơ để ước mơ của tác giả không chỉ mãi là ước mơ.

- Tác giả vừa:

+ Phê phán mạnh mẽ sự bất công, phân biệt chủng tộc

+ Vừa thể hiện tình yêu đất nước sâu sắc

- Ông tin rằng nước Mỹ có thể trở nên tốt đẹp hơn nếu thực hiện công lí.

- Điều đó cho thấy thái độ: vừa đau xót, vừa hi vọng, vừa tin tưởng vào tương lai.

Câu 7 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Theo bạn, quan điểm và ước mơ của tác giả được thể hiện trong văn bản đến nay còn có ý nghĩa không? Hãy lí giải ý kiến của bạn.

Trả lời:

Theo bạn, quan điểm và ước mơ của tác giả được thể hiện trong văn bản đến nay vẫn còn rất ý nghĩa. Mặc dù hiện nay đất nước ngày càng tôn trọng sự tự do và bình đẳng nhưng mà đâu đó, góc tối về sự phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn tại. Ví dụ như sự kỳ thị của những người Mỹ da trắng với cộng đồng người Mỹ gốc Phi, tình trạng phân biệt đối xử của các nhân viên thực thi pháp luật da trắng với công dân da màu. Các vụ liên tiếp xảy ra gần đây với mức độ nguy hiểm đã gióng lên hồi chuông báo động về nạn phân biệt chủng tộc có xu hướng gia tăng ở Mỹ. Tuy nhiên, từ đó đến nay, vẫn còn rất nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh vấn đề bình đẳng xã hội tại Mỹ khi nỗi ám ảnh chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vẫn còn đang len lỏi trong mọi mặt của đời sống xã hội.

- Những quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị: Nhấn mạnh quyền bình đẳng, quyền con người

- Trong xã hội hiện đại, vẫn còn những bất công cần đấu tranh.

- Ước mơ của tác giả trở thành: nguồn cảm hứng cho các phong trào vì công lí trên toàn thế giới

- Vì vậy, văn bản vẫn có ý nghĩa sâu sắc đến hôm nay.

Câu 8 (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Từ bài diễn văn Tôi có một ước mơ, bạn rút ra được bài học gì trong việc tạo lập một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục?

Trả lời:

Từ bài diễn văn Tôi có một ước mơ, bài học được rút ra trong việc tạo lập một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục là:

- Tạo lập văn bản nghị luận gồm nhiều thành tố: luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng,…. Các thành tố này phải được tổ chức thành một chỉnh thể, có quan hệ chặt chẽ với nhau, thuyết phục người đọc.

- Biết vận dụng kết hợp đa dạng các phương thức biểu đạt và biện pháp tu từ.

- Cần có luận điểm rõ ràng, đúng đắn

- Sử dụng lí lẽ logic, dẫn chứng cụ thể

- Kết hợp: Yếu tố tự sự và biểu cảm

- Sử dụng biện pháp tu từ để tăng sức biểu đạt

- Giọng điệu cần chân thành, tha thiết, phù hợp với đối tượng

* Kết nối đọc – viết

Bài tập (trang 84 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày điều bạn thấy tâm đắc khi đọc văn bản Tôi có một ước mơ.

Đoạn văn tham khảo

Văn bản Tôi có một ước mơ – Mác-tin Lu-thơ Kinh đã để lại ấn tượng sâu sắc với người đọc qua thông điệp về ước mơ được sống bình đẳng, tự do của người da đen nói riêng và của toàn thể xã hội nói chung. Mỗi một quốc gia hay bất cứ đâu trên thế giới con người đều mưu cầu sự tự do. Sống được tự do mới là sống, có tự do con người mới có thể phát triển bản thân, làm những thứ mình thích, cống hiến những điều tốt đẹp cho xã hội. Nếu không có tự do, con người sẽ không có được hạnh phúc, sẽ phải sống trong nỗi thống khổ của cảnh bị đàn áp, áp bức, cuộc sống sẽ chìm trong lầm than, đau khổ. Tự do trong bất cứ thời đại nào, ở bất cứ quốc gia nào cũng đều rất quan trọng và là mơ ước của bao người. Hãy trân trọng sự tự do mình đang có và nỗ lực nhiều hơn nữa để cống hiến cho xã hội những điều tốt đẹp hơn.

Điều em tâm đắc nhất khi đọc văn bản “Tôi có một ước mơ” là niềm tin mãnh liệt của tác giả vào công lí và khả năng thay đổi của con người. Dù phải đối diện với thực trạng “một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do”, tác giả không chìm trong bi quan mà vẫn kiên định khẳng định: “Đây là lúc…” phải hành động để biến lời hứa về bình đẳng thành hiện thực. Đặc biệt, điệp ngữ “Tôi mơ rằng…” đã khắc họa một tương lai đầy hi vọng, nơi con người không bị đánh giá bởi màu da mà bởi phẩm cách, nơi trẻ em da đen và da trắng có thể nắm tay nhau như anh em. Điều đó khiến em nhận ra rằng ước mơ không phải là điều xa vời, mà chính là động lực để con người kiên trì đấu tranh cho những giá trị tốt đẹp. Đồng thời, em cũng ấn tượng với quan điểm đấu tranh văn minh, không bạo lực của tác giả, bởi ông hiểu rằng công lí chân chính phải đi cùng với lòng nhân ái. Từ văn bản, em rút ra bài học rằng mỗi người cần nuôi dưỡng ước mơ, giữ vững niềm tin và dám hành động vì lẽ phải. Khi con người biết sống có lí tưởng và trách nhiệm như vậy, xã hội chắc chắn sẽ ngày càng công bằng và tốt đẹp hơn.