Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trang 132) - Kết nối tri thức

4,865 từ~25 phút đọc

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trang 132) - Kết nối tri thức

Với soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trang 132 → trang 141 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trang 132) - Kết nối tri thức

Mời các bạn đón đọc: Tóm tắt Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài & Bố cục Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

* Trước khi đọc

Câu hỏi (trang 132 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phải chăng giá trị của nghệ thuật là ở chỗ nó có ích cho đời sống?

Trả lời:

Giá trị của nghệ thuật là ở chỗ nó có ích cho đời sống. Nghệ thuật nếu tách rời đời sống của con người sẽ trở thành một tác phẩm vô nghĩa. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị là khi nó thể hiện thông điệp và tư tưởng về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu và lợi ích của con người.

Giá trị của nghệ thuật không chỉ nằm ở tính hữu ích đối với đời sống mà còn ở khả năng tạo ra cái đẹp và nuôi dưỡng tâm hồn con người. Nghệ thuật giúp con người nhận thức và sống tốt hơn, nhưng đồng thời cũng mang lại những rung cảm thẩm mĩ sâu sắc. Vì vậy, giá trị của nghệ thuật là sự kết hợp giữa cái đẹp và ý nghĩa đối với đời sống.

* Đọc văn bản

Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc

1. Lời thoại và hành động thể hiện thái độ gì của các nhân vật?

Thái độ của các nhân vật: ngạc nhiên, ấm ức với hành động của quần chúng nhân dân:

- Vũ Như Tô: cảm thấy bất ngờ về việc mình xây Cửu Trùng Đài laaji là sai. Ông khẳng định bản thân mình quang minh chính đại, không làm gì nên tội nên không phải chạy trốn.

- Đan Thiềm: luôn tỏ ra lo lắng, khuyên Vũ Như Tô nên trốn đi. 

- Đan Thiềm: lo lắng, hoảng hốt, tha thiết khuyên Vũ Như Tô trốn đi → thể hiện sự tỉnh táo và tình cảm chân thành.

- Vũ Như Tô: bình tĩnh, kiên quyết, không muốn trốn → thể hiện sự tin vào việc làm của mình và có phần chủ quan.

2. Tình huống kịch được miêu tả trong lớp I là gì?

Tình huống kịch được miêu tả trong lớp I: Vì xây dựng Cửu Trùng Đài mà dân gian đói kém, vua xa xỉ, công khố hao hụt, dân gian lầm than. Người dân không cần Cửu Trùng Đài.

Tình huống nguy cấp: loạn lạc nổ ra, triều đình rối ren, Vũ Như Tô bị coi là tội phạm và đứng trước nguy cơ bị giết → tạo cao trào kịch.

3. Bối cảnh nào được tái hiện thông qua các chỉ dẫn sân khấu.

Bối cảnh: nhân dân nổi lên (tiếng quân ầm ầm, tiếng trống, tiền chiêng, tiếng tù và, tiếng ngựa hí).

Bối cảnh cung đình hỗn loạn: có tiếng trống, tiếng reo, quân lính, không khí căng thẳng, nguy hiểm → báo hiệu biến loạn đang đến gần.

4. Chú ý thái độ của Vũ Như Tô, Đan Thiềm khi Nguyễn Vũ xuất hiện.

Khi Nguyễn Vũ xuất hiện, Đan Thiềm luôn cố tỏ ra lo lắng còn Vũ Như Tô lại không vì: Trong tình thế lúc này, Vũ Như Tô vẫn tin bản thân mình không làm gì sai, bản thân luôn quang minh chính đại, làm việc gì cũng nghĩ tới lợi ích chung, không lý gì lại phải chạy trốn. Còn Đan Thiềm, nàng biết rõ tình thế hiện tại ra sao, vì lo cho Vũ Như Tô nên khuyên ông hãy chạy đi, nàng khuyên ông hãy chạy đi để bảo toàn tính mạng.

- Đan Thiềm: càng lo lắng, thúc giục Vũ Như Tô trốn.

- Vũ Như Tô: vẫn bình tĩnh, chưa nhận rõ nguy hiểm, còn tin vào lẽ phải của mình.

5. Sự kiện nào được miêu tả trong lớp III.

Sự kiện được miêu tả trong lớp III: Trịnh Duy Sản làm phản, cái chết của Hoàng Thượng và Nguyễn Vũ.

Tin dữ dồn dập: Trịnh Duy Sản làm phản, giết vua, hoàng hậu chết, triều đình sụp đổ → đẩy kịch lên đỉnh điểm bi kịch.

6. Sự kiện nào được miêu tả trong lớp IV.

Sự kiện được miêu tả trong lớp IV: Tình thế nguy ngập: được tin vua chết, Nguyễn Hoằng Dụ kéo quân đốt phá kinh thành, thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.

Loạn quân chiếm kinh thành, giết chóc, phá hoại; Cửu Trùng Đài bị đe dọa → tình thế cực kì nguy ngập.

7. Chú ý sự khác biệt trong hành động, thái độ của các nhân vật trong tình thế nguy ngập.

- Vũ Như Tô: Phản đối việc đốt phá Cửu Trùng Đài

- Bọn nội giám: Phản đối việc để Cửu Trùng Đài của Vũ Như Tô

- Đan Thiềm: lo lắng, tìm cách cứu Vũ Như Tô.

- Vũ Như Tô: kiên quyết không rời Cửu Trùng Đài, tin vào lí tưởng.

- Đám nội giám: hoảng loạn, chạy trốn.

8. Chú ý thái độ của Vũ Như Tô và Đan Thiềm.

- Vũ Như Tô: bình tĩnh, khẳng định bản thân mình quang minh chính đại, không làm gì sai để phải bỏ chạy.

- Đan Thiềm: vội vàng, khẩn trương giục Vũ Như Tô bỏ chạy vì nàng lo lắng cho tính mạng của người tài.

Đan Thiềm: tha thiết, hi sinh, sẵn sàng chết để cứu Vũ Như Tô.

Vũ Như Tô: cảm động nhưng vẫn quyết ở lại → kiên định đến cực đoan.

9. Chú ý hành động của đám cung nữ và quân nổi loạn.

- Đám cung nữ: quỳ xuống van xin, đổ mọi tội lỗi cho Đan Thiềm.

- Quân nổi loạn: bắt lũ cung nữ.

- Cung nữ: sợ hãi, van xin, đổ tội cho nhau để sống.

- Quân khởi loạn: hung hãn, tàn bạo, coi thường mạng người.

10. Hành động, lời thoại của Vũ Như Tô và Đan Thiềm thể hiện thái độ gì của nhân vật?

- Vũ Như Tô: Không sợ chết, không chịu khuất phục trước quân nổi loạn.

- Đan Thiềm: Quỳ lạy, van xinh Ngô Hạch tha chết cho Vũ Như Tô.

- Vũ Như Tô: vẫn tin mình vô tội, bảo vệ lí tưởng xây đài → bi kịch của người nghệ sĩ xa rời thực tế.

- Đan Thiềm: nhận tội thay, xin tha cho Vũ Như Tô → giàu lòng hi sinh.

11. Chú ý sự đối lập trong lời thoại, hành động của Vũ Như Tô và đám quân sĩ. 

- Vũ Như Tô: Khẳng định mình không có tội, việc xây dựng Cửu Trùng Đài là để làm đẹp cho đất nước.

- Đám quân sĩ: Cho rằng hành động và lời nói của Vũ Như Tô là điên rồ, người ta oán trách Vũ Như Tô vì xây dựng mà mẹ mất con, vợ mất chồng,…

- Vũ Như Tô: khẳng định lí tưởng, cho rằng việc xây đài là đúng.

- Quân sĩ: kết tội, căm phẫn vì dân khổ → đại diện cho thực tế đời sống.

12. Chú ý thái độ của Vũ Như Tô khi biết Cửu Trùng Đài bị đốt cháy.

Vũ Như Tô đau đớn, tiếc nuối, xót xa khi nhìn thấy Cửu Trùng Đài đang cháy rụi trước mắt.

Vũ Như Tô: đau đớn, tuyệt vọng, không tin vào sự thật → nhận ra bi kịch nhưng đã muộn.

* Sau khi đọc

Nội dung chính: Văn bản là những xung đột, tính cách, diễn biến tâm trạng và bi kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích. Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lý tưởng nghệ thuật thuần túy cao siêu muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài | Hay nhất Soạn văn 11 Kết nối tri thức

Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc

Câu 1 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Tóm tắt các sự kiện chính trong đoạn trích. Bạn có nhận xét gì về diễn biến của các sự kiện?

Trả lời:

Các sự kiện chính trong đoạn trích:

- Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô đi trốn, vì mọi người cho rằng ông chính là thủ phạm khiến mọi người oán giận, còn ông cảm thấy bản thân không làm gì nên tội.

- Trịnh Duy Sản mưu với lũ Lê Quảng Đô, Trịnh Tri Sâm lập vua khác. 

- Hoàng Thượng qua đời, Nguyễn Vũ cũng tự tử.

- Được tin vua chết, Nguyễn Hoằng Dụ kéo quân đốt phá kinh thành, thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.

- Đan Thiềm tiếp tục khuyên Vũ Như Tô chạy trốn, Vũ Như Tô tin bản thân mình trong sạch.

- Quân khởi loạn bắt đám cung nữ, Đan Thiềm cầu xin cho Vũ Như Tô. Vũ Như Tô không chịu khuất phục, không sợ chết trước quân khởi loạn.

- Vũ Như Tô vĩnh biệt Đan Thiềm và Cửu Trùng Đài.

- Vũ Như Tô đau đớn, xót xa khi nhìn Cửu Trùng Đài cháy.

=> Các sự việc diễn ra theo trình tự thời gian, xoay quanh cuộc đời Vũ Như Tô. 

- Tóm tắt:

+ Loạn quân nổi dậy, Trịnh Duy Sản làm phản, giết vua, triều đình rơi vào hỗn loạn.

+ Kinh thành náo loạn, quân lính tràn vào, không khí căng thẳng, nguy hiểm bao trùm.

+ Cửu Trùng Đài bị xem là nguyên nhân gây khổ cho dân nên bị loạn quân kéo đến phá hủy.

+ Đan Thiềm hoảng hốt, khuyên Vũ Như Tô trốn đi để bảo toàn tính mạng.

+ Vũ Như Tô không chịu trốn, vẫn tin mình vô tội và công trình là chính nghĩa.

+ Loạn quân bắt được Vũ Như Tô, kết tội ông là nguyên nhân gây tai họa cho dân.

+ Đan Thiềm xin nhận tội thay và tìm cách cứu Vũ Như Tô nhưng không thành.

+ Cửu Trùng Đài bị đốt cháy, Vũ Như Tô đau đớn, tuyệt vọng trước sự sụp đổ của lí tưởng.

+ Cuối cùng, Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều bị đưa đi hành hình, kết thúc bi kịch.

- Diễn biến các sự kiện diễn ra nhanh, dồn dập, liên tục đẩy xung đột lên cao, tạo nên nhịp điệu căng thẳng và kết thúc bằng một bi kịch không thể tránh khỏi.

Câu 2 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Tình huống kịch được miêu tả trong đoạn trích là gì? Trước tình huống đó, mỗi nhân vật đã có những phản ứng, hành động như thế nào? Những phản ứng, hành động đó thể hiện đặc điểm tính cách gì của nhân vật?

Trả lời:

- Tình huống kịch: mâu thuẫn giữa dân chính, những người thợ xây đài và tầng lớp vua chúa phong kiến ngày càng gay gắt. Lợi dụng tình hình đó, phe phản nghịch, đứng đầu là Quận công Trịnh Duy Sản đã nổi loạn giết vua Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm…Còn lôi kéo cả binh lính, dân chứng và chính người thợ xây đài nổi dậy đốt Đài Cửu Trùng đang xây dở.

- Phản ứng, hành động của các nhân vật:

+ Đan Thiềm: vội vàng, khẩn trương giục Vũ Như Tô bỏ chạy vì nàng lo lắng cho tính mạng của người tài.

+ Vũ Như Tô: bình tĩnh, khẳng định bản thân mình quang minh chính đại, không làm gì sai để phải bỏ chạy.

=> Qua đó có thể thấy Đan Thiềm là người có bản chất tốt đẹp, sẵn sàng hi sinh cả mạng sống mình để bảo vệ người tài. Còn Vũ Như Tô là một người chính trực, không chịu khuất phục, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nghệ thuật.

- Tình huống kịch là tình thế cực kì nguy cấp khi loạn quân nổi dậy, triều đình sụp đổ, Cửu Trùng Đài bị đe dọa phá hủy và Vũ Như Tô đứng trước nguy cơ bị giết.

- Phản ứng:

+ Đan Thiềm thể hiện sự hoảng hốt và lo lắng, liên tục khuyên Vũ Như Tô trốn đi, điều đó cho thấy bà là người tỉnh táo, giàu tình nghĩa và nhận thức rõ nguy hiểm.

+ Vũ Như Tô vẫn giữ thái độ bình tĩnh, không chịu trốn vì tin rằng mình vô tội và công trình của mình là chính nghĩa, điều đó thể hiện sự kiên định nhưng cũng cho thấy sự chủ quan và xa rời thực tế.

- Những phản ứng khác nhau của hai nhân vật đã làm nổi bật tính cách và góp phần làm sâu sắc thêm xung đột kịch.

Câu 3 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Xung đột chính trong đoạn trích là gì? Dựa vào đâu bạn nhận ra xung đột đó?

Trả lời:

Xung đột chính của kịch: Nhân dân, những người thợ xây đài >< tầng lớp vua chúa phong kiến, Vũ Như Tô >< những người thợ phu phen bị bắt bớ, phu dịch để xây Cửu Trùng Đài.

=> Dựa vào ngôn ngữ, hành động của các nhân vật để xác định xung đột của kịch.

- Xung đột chính là xung đột giữa lí tưởng nghệ thuật cao đẹp của Vũ Như Tô với hiện thực đời sống đầy khổ cực của nhân dân.

- Vũ Như Tô cho rằng việc xây dựng Cửu Trùng Đài là để tạo ra cái đẹp vĩnh cửu, thể hiện khát vọng nghệ thuật lớn lao. Trong khi đó, nhân dân và loạn quân lại coi công trình này là biểu tượng của sự bóc lột, khiến họ căm phẫn và quyết tâm phá hủy.

- Xung đột này thể hiện qua hành động phá đài và kết tội Vũ Như Tô, cho thấy sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp lí tưởng và đời sống thực tế.

Câu 4 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Phân tích diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô được thể hiện trong đoạn trích (dựa vào các lời thoại và hành động của nhân vật).

Trả lời:

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô:

- Lúc đầu, ông thà chết chứ nhất định không xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân; khi được vua thưởng bạc vàng, lụa là ông đem chia hết cho thợ. Nhưng Vũ Như Tô quá say sưa với mơ ước xây dựng một công trình nghệ thuật lớn cho đất nước, cho đời sau đến mới quên cả thực tế: dân chúng đang đói khổ, càng bị giai cấp thống trị bòn rút mồ hôi, nước mắt để xây Cửu Trùng Đài.

- Khi dân chúng và quân khởi loạn nổi dậy, Vũ Như Tô quyết không chạy trốn, không nhận ra cái sai của mình, nguyện chịu chết và bảo vệ Cửu Trùng Đài. 

- Vũ Như Tô vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân. Diễn biến mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô, mâu thuẫn giữa con người dân và con người nghệ sĩ, giữa khát vọng nghệ thuật và thực tế xã hội đã có kết cục nhưng thực ra vẫn chưa được giải quyết triệt để.

- Khi Cửu Trùng Đài bị cháy, Vũ Như Tô cảm thấy đau đớn, xót xa. Vũ Như Tô quá say mê cái đẹp mà quên cả thực tế. 

- Ban đầu, Vũ Như Tô thể hiện sự bình tĩnh và tin tưởng vào việc mình làm, qua lời khẳng định: “Ta không làm điều gì nên tội”. Câu nói cho thấy ông ý thức rất rõ về lí tưởng của mình, tin rằng việc xây Cửu Trùng Đài là đúng đắn, từ đó bộc lộ niềm tin mãnh liệt nhưng cũng có phần chủ quan.

- Khi Đan Thiềm khuyên trốn, ông vẫn kiên quyết không rời đi, thể hiện qua thái độ: “Ta không đi đâu cả”. Lời nói dứt khoát này cho thấy ông đặt lí tưởng nghệ thuật lên trên sự sống, đồng thời bộc lộ sự cứng nhắc, xa rời thực tế.

- Khi nghe tin Cửu Trùng Đài bị phá, ông rơi vào trạng thái bàng hoàng, đau đớn, thể hiện qua tiếng kêu tuyệt vọng: “Ôi mộng lớn! Ôi Cửu Trùng Đài!”. Đây là khoảnh khắc lí tưởng sụp đổ, cho thấy bi kịch của người nghệ sĩ khi cái đẹp không được đời sống chấp nhận.

- Cuối cùng, dù đối diện cái chết, ông vẫn không hoàn toàn nhận ra sai lầm, mà vẫn gắn bó với công trình của mình. Điều này thể hiện một bi kịch sâu sắc: ông là người có khát vọng lớn nhưng lạc lõng với thực tế xã hội, dẫn đến kết cục bi thảm.

Câu 5 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Hình tượng Cửu Trùng Đài trong vở kịch có ý nghĩa gì? Bạn có suy nghĩ gì về những phản ứng khác nhau của các nhân vật khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy?

Trả lời:

* Ý nghĩa hình tượng Cửu Trùng Đài: 

- Với Vũ Như Tô và Đan Thiềm: Cửu Trùng Đài là công trình kiến trúc trong mơ ước, là giấc mơ sáng tạo lớn lao, cao cả, đẹp đẽ của người nghệ sĩ . Cửu Trùng Đài là biểu tượng của cái đẹp siêu đẳng mà người nghệ sỹ muốn thi thố tài năng cùng trời đất.

- Với nhà vua và triều đình: Cửu Trùng Đài là biểu tượng cho quyền lực và sự xa hoa, thối nát vô độ của nhà vua và giai cấp thống trị đương thời.

- Với quần chúng nhân dân: Cửu Trùng Đài là món nợ xương máu không thể tính đếm của người lao động. Đó là biểu tượng của lòng hờn căm chất chồng của nhân dân với giai cấp thống trị đương thời.

- Với chính nó: Cửu Trùng Đài trong giấc mộng của người nghệ sĩ sáng tạo Vũ Như Tô muốn xây một công trình nghệ thuật “bền vững như trăng sao”, trường tồn, bất diệt để tô điểm cho non sông, đất nước. Nghĩa là nó là cái đẹp gắn với cái thiện nhưng trên thực tế, sự tồn tại của nó ngắn ngủi như một giấc mơ đẫm máu và nước mắt của người nghệ sĩ sáng tạo và của quần chúng lao động.

* Khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy phản ứng khác nhau của các nhân vật: Vũ Như Tô đau đớn kinh hoàng nhận ra sự vỡ mộng lớn. Ông “rú lên” kinh hoàng, tuyệt vọng: “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi!… Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”. Còn về phía nhân dân, họ vui mừng khi Cửu Trùng Đài bị cháy. 

- Cửu Trùng Đài là biểu tượng cho khát vọng nghệ thuật cao đẹp, cho ước mơ sáng tạo cái đẹp vĩnh cửu của con người. Đồng thời, công trình này cũng trở thành biểu tượng của sự xa rời thực tế, khi cái đẹp được xây dựng trên nỗi khổ của nhân dân. Khi Cửu Trùng Đài bị đốt, đó không chỉ là sự phá hủy một công trình mà còn là sự sụp đổ của một lí tưởng nghệ thuật không gắn với đời sống.

- Phản ứng khác nhau của các nhân vật trước sự kiện này cho thấy sự đối lập trong nhận thức: Vũ Như Tô đau đớn tuyệt vọng, còn loạn quân thì hả hê vì cho rằng đã tiêu diệt cái ác.

Câu 6 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Vở kịch gợi cho bạn suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí tưởng và thực tế, giữa cá nhân và lịch sử?

Trả lời:

Qua văn bản trên, tác giả muốn thể hiện thông điệp và tư tưởng về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí tưởng và thực tế, giữa cá nhân và lịch sử. Tác giả muốn khuyên người đọc cần quan sát thật kỹ để có những sáng tác nghệ thuật phù hợp về mọi mặt. Đừng nên quá u mê, mê muội mà quên mất giá trị thực tế của cuộc sống. Không thể vì theo đuổi những nghệ thuật vĩ đại, cao siêu mà quên đi dẫm đạp lên lợi ích của người khác.

- Vở kịch đặt ra vấn đề: nghệ thuật không thể tách rời đời sống mà phải gắn bó với lợi ích của con người.

- Nếu nghệ thuật chỉ chạy theo cái đẹp thuần túy mà không quan tâm đến đời sống thực tế, nó có thể trở nên vô nghĩa, thậm chí gây phản tác dụng.

- Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng khát vọng sáng tạo cái đẹp của Vũ Như Tô là chính đáng, chỉ sai ở chỗ không phù hợp với hoàn cảnh.

- Vì vậy, nghệ thuật chân chính phải vừa hướng tới cái đẹp vừa phục vụ con người.

Câu 7 (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Trong lời đề tựa kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng viết:

“Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết.

Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.”

Lời đề tựa này cho thấy thái độ gì của tác giả đối với các nhân vật? Thái độ đó được biểu hiện như thế nào qua văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài?

Trả lời:

Lời tựa đã thể hiện toàn bộ nội dung cũng như mâu thuẫn, băn khoăn của chính tác giả - mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô cũng chưa được giải quyết dứt khoát. Tác giả nhận thức được mâu thuẫn giữa lợi ích bức thiết của dân chúng và niềm mong muốn có được một công trình nghệ thuật vĩ đại cho dân tộc. Tác giả băn khoăn: không thể hi sinh lợi ích bức thiết của dân chúng nhưng vẫn mong có một công trình nghệ thuật như Cửu Trùng Đài.

- Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì chắc Lê Tương Dực không thể xây được Cửu Trùng Đài, gây thiệt hại cho nhân dân. Nhưng quần chúng nhân dân trong cơn nông nổi, giận dữ, có thể chưa hiểu hết Vũ Như Tô.  Khát vọng và động cơ của Vũ Như Tô là chính đáng, nhưng xây Cửu Trùng Đài là không nên vì lúc đó là chất thêm một gánh nặng cho dân chúng.

- Đan Thiềm và Vũ Như Tô là người quá say mê nghệ thuật mà quên cả thực tế. Nhưng sự đam mê ấy luôn phải có sự tỉnh táo của người công dân quan tâm đến lợi ích của dân chúng, phải có hành vi ứng xử đúng, hợp với hoàn cảnh thực tế. Nói cầm bút chẳng qua cùng là một bệnh với Đan Thiềm, phần nào tác giả chưa dứt khoát với quan niệm nghệ thuật thuần túy, ít nhất là trong tác phẩm này.

- Trước hết, qua lời đề tựa: “Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?”, tác giả không đưa ra câu trả lời dứt khoát mà đặt vấn đề dưới dạng câu hỏi. Cách đặt vấn đề này cho thấy tác giả trăn trở, day dứt trước bi kịch, đồng thời nhận ra đây là một vấn đề phức tạp, không thể đánh giá đơn giản đúng – sai.

- Câu viết: “Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm” thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với Vũ Như Tô và Đan Thiềm – những con người yêu cái đẹp, trân trọng tài năng. Điều này cho thấy tác giả đứng về phía giá trị nghệ thuật và khát vọng sáng tạo, nhưng không cực đoan.

- Thái độ đó được thể hiện trong đoạn trích qua việc xây dựng nhân vật Vũ Như Tô:

+ Tác giả để nhân vật tự khẳng định: “Ta không làm điều gì nên tội”, cho thấy ông có lí tưởng chính đáng.

+ Đồng thời, kết cục bi thảm của ông và cảnh “Cửu Trùng Đài bị đốt” lại cho thấy lí tưởng ấy xa rời thực tế và không được đời sống chấp nhận.

→ Qua đó, tác giả vừa trân trọng cái đẹp, vừa phê phán sự cực đoan, tách rời thực tiễn.

- Như vậy, thái độ của tác giả là cái nhìn đa chiều, nhân văn và giàu suy tư: Vừa xót thương cho số phận bi kịch của người nghệ sĩ, vừa đặt ra vấn đề lớn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống mà không áp đặt một kết luận đơn giản.

* Kết nối đọc – viết

Bài tập (trang 141 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Theo bạn, vấn đề xã hội nào được đề cập trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài? Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về vấn đề đó.

Đoạn văn tham khảo:

Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài và bi kịch của Vũ Như Tô đã nhắc nhở mỗi chúng ta về ước mơ chân chính trong cuộc sống. Ước mơ cũng chính là mong muốn được cống hiến sức lực của mình xã hội và khi chúng ta đạt được ước mơ cũng chính là lúc chúng ta được mọi người công nhận năng lực của mình. Khi mỗi người có ước mơ họ trở nên tốt đẹp hơn, đề cao tầm quan trọng của ước mơ trong cuộc sống con người. Việc xây dựng ước mơ không chỉ khiến cho bản thân tốt đẹp hơn mà còn đóng góp cho xã hội, cho đất nước phát triển. Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn nhiều người sống không có ước mơ, hoài bão, vô cảm, phó mặc cho cuộc đời. Lại có người sống có ước mơ nhưng không cố gắng thực hiện mà chỉ hão huyền, viển vông… những người này cần phải thức tỉnh và thay đổi bản thân để có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Mọi ước mơ đều rất đẹp nhưng không phải ai cũng có thể biến những ước mơ của mình thành hiện thực. Nó đòi hỏi một sự cố gắng, nỗ lực lớn của bản thân mỗi người. Nếu bạn đang có một ước mơ, hãy nâng niu và nuôi dưỡng nó để nó có thể thành sự thật.

Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đặt ra vấn đề xã hội sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Theo tôi, nghệ thuật chỉ thực sự có giá trị khi gắn bó với con người và phục vụ cuộc sống, chứ không thể tồn tại tách rời thực tế. Trong tác phẩm, Vũ Như Tô mang khát vọng xây dựng một công trình “đẹp muôn thuở”, nhưng lại không nhận ra rằng Cửu Trùng Đài được dựng lên bằng mồ hôi, xương máu của nhân dân. Chính vì vậy, cái đẹp mà ông theo đuổi trở nên xa lạ, thậm chí đối lập với đời sống, dẫn đến sự phản kháng dữ dội của quần chúng và kết cục bi thảm. Điều đó cho thấy một chân lí: nghệ thuật nếu chỉ hướng đến cái đẹp thuần túy mà không quan tâm đến con người thì sẽ trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng khát vọng sáng tạo của Vũ Như Tô là chính đáng, thể hiện ước mơ vươn tới những giá trị cao đẹp của con người. Vì vậy, vấn đề không phải là phủ nhận nghệ thuật, mà là phải đặt nghệ thuật trong mối quan hệ hài hòa với đời sống. Trong xã hội hôm nay, điều này vẫn còn nguyên ý nghĩa, khi người nghệ sĩ cần sáng tạo những giá trị vừa có tính thẩm mĩ vừa gần gũi, có ích cho cộng đồng.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trang 132) - Kết nối tri thức | VietSpack