Soạn bài Tiếp xúc với tác phẩm - Kết nối tri thức

826 từ~5 phút đọc

Soạn bài Tiếp xúc với tác phẩm - Kết nối tri thức

Với soạn bài Thực hành đọc: Tiếp xúc với tác phẩm trang 98, 99, 100 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.

Soạn bài Tiếp xúc với tác phẩm - Kết nối tri thức

Nội dung chính: Văn bản đề cập đến vấn đề tiếp xúc tác phẩm nghệ thuật thông qua bức tranh Em Thúy của Trần Văn Cẩn.

Soạn bài Tiếp xúc với tác phẩm | Hay nhất Soạn văn 11 Kết nối tri thức

1. Nội dung các khái niệm đời sống vật thể và đời sống hình tượng được tác giả sử dụng trong văn bản

- Đời sống vật thể: tồn tại vật thể như một đời sống đồ vật. Ví dụ bức tranh Em Thúy là một tấm vải, khổ 45 x 60 cm, rằng nó được vẽ bằng màu dầu, kiểu hội họa bác học châu Âu, rằng nó có khung bằng gỗ,… đó là đồ vật.

- Đời sống hình tượng: tồn tại tinh thần như một hình tượng nghệ thuật của giá trị thẩm mĩ, thể hiện nội dung của tác phẩm. Ví dụ ở bức tranh Em Thúy, hiện tượng phân hóa này không xảy ra trên bức tranh. Hiện tượng này xảy ra trong ý thức tôi, ở cái khả năng trừu tượng hóa của đầu óc con người.

Nội dung các khái niệm “đời sống vật thể” và “đời sống hình tượng”

“Đời sống vật thể” là sự tồn tại hữu hình của tác phẩm: chất liệu, kích thước, màu sắc,...

“Đời sống hình tượng” là giá trị tinh thần, thẩm mĩ và ý nghĩa nghệ thuật mà tác phẩm gợi ra.

Theo tác giả, đời sống hình tượng mới là bản chất quan trọng nhất của tác phẩm nghệ thuật.

2. Vấn đề giá trị chủ quan của tác phẩm

- Cái tiêu chuẩn “phản ánh đúng hiện thực”, cái tầm quan trọng của đề tài và khách thể, đối với mĩ thuật, nên hiểu như thế nào? Không nhất thiết phải thấu hiểu đề tài và khách thể là gì, rồi mới hiểu được tác phẩm.

- Khi đổi chủ đề và tên gọi thì giá trị thẩm mĩ hay ý nghĩa nội dung cũng không hề thay đổi, vì bản chất hiện thực vẫn vậy, vẫn là một.

- Bản chất hiện thực ở một tác phẩm không hề là cái kết cấu vật thể của đề tài, hình thù, tên gọi mà chính là cái hiện thực hình tượng.

Vấn đề giá trị chủ quan của tác phẩm

+ Giá trị của tác phẩm không nằm ở việc phản ánh giống hiện thực mà ở cảm xúc, cách nhìn và tư tưởng của người nghệ sĩ.

+ Qua bức Em Thuý, tác giả cho rằng người xem không cần biết “em Thuý thật” là ai mà vẫn cảm nhận được giá trị nghệ thuật của tranh.

+ Tác phẩm mang dấu ấn chủ quan và thế giới nội tâm của Trần Văn Cẩn.

3. Vai trò của người xem, người đọc trong việc giúp hình tượng nghệ thuật trường tồn

- Hiện thực và nội dung của tác phẩm còn sinh nở vô hạn trong đầu óc và con mắt người xem. Một tác phẩm hàm súc bao giờ cũng dành cho trí tưởng tượng của người xem một cách tự do hé mở, chờ đợi ở người xem bù đắp sự chủ quan.

- Người xem, người đọc giúp hình tượng nghệ thuật trên đó được thức tỉnh, sống lại và sống thêm một cuộc đời mới.

Vai trò của người xem, người đọc

+ Người xem, người đọc giúp hình tượng nghệ thuật “sống dậy” và được mở rộng ý nghĩa.

+ Mỗi người tiếp nhận bằng cảm xúc và trải nghiệm riêng sẽ khám phá thêm những giá trị mới của tác phẩm.

+ Vì thế, công chúng góp phần làm cho nghệ thuật trường tồn.

4. Cách triển khai các luận điểm trong văn bản

- Các luận điểm trong văn bản triển khai theo một trật tự logic, các luận điểm có sự liên kết với nhau, có tính định hướng nhằm giải đáp những vấn đề nhận thức và tư tưởng đặt ra trong tác phẩm (quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng).

- Các luận điểm đi thẳng vào vấn đề, có tính nghệ thuật, hợp tình hợp lí.

Cách triển khai luận điểm trong văn bản

- Văn bản triển khai theo trình tự:

+ Giải thích đời sống vật thể và hình tượng.

+ Phân tích giá trị chủ quan của tác phẩm.

+ Khẳng định vai trò của người tiếp nhận.

- Tác giả kết hợp giải thích, phân tích, so sánh và dẫn chứng cụ thể như Em Thuý, Mona Lisa để tăng sức thuyết phục.