Soạn bài Củng cố, mở rộng lớp 10 trang 151 Tập 1 - Kết nối tri thức

3,092 từ~16 phút đọc

Soạn bài Củng cố, mở rộng lớp 10 trang 151 Tập 1 - Kết nối tri thức

Với soạn bài Củng cố, mở rộng trang 151 Tập 1 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.

Soạn bài Củng cố, mở rộng lớp 10 trang 151 Tập 1 - Kết nối tri thức

Câu 1 (trang 151 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

- Tuồng là 1 trong các loại hình nghệ thuật dân gian Việt Nam nổi tiếng nhất là ở khu vực Trung Bộ, những tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,… Tích chuyện trong mỗi vở tuồng đều là những tích chuyện lịch sử, những vị tướng anh hùng, phản ánh các yếu tố của thời đại. Các diễn viên được hóa thân rất nổi bật, “cá tính hóa” với các màu sắc để phân biệt vai diễn: màu đỏ là trung thần, xám là nịnh thần, hồn ma sẽ là xanh lục và người thật thà sẽ đi cùng màu đen. 

- Chèo là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam, phát triển mạnh ở phía bắc, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và lan tỏa đến khu vực Bắc Trung Bộ và Trung Du Miền Núi Bắc Bộ:

+ Chèo là sân khấu của hiện thực đời sống tam nông: nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

+ Sân khấu chèo hướng tới trình thức hóa, mô hình hóa (hình tượng của nhân vật).

+ Nghệ thuật sân khấu đồng cảm: đó là sự kết hợp tinh tế, nhuần nhuyễn, điêu luyện và hài hòa giữa gián cách và hòa cảm, giữa khách quan và chủ quan, giữa thực và hư trong quá trình thể hiện đời sống nhân vật trên sân khấu. 

- Tuồng là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian tiêu biểu của Việt Nam, phát triển mạnh ở khu vực Trung Bộ như Nghệ An, Hà Tĩnh,… Nội dung các vở tuồng thường khai thác những câu chuyện lịch sử, xoay quanh các vị tướng anh hùng, qua đó phản ánh đặc điểm và tinh thần của từng thời đại. Điểm nổi bật của tuồng là nghệ thuật hóa trang mang tính ước lệ cao, các nhân vật được “cá tính hóa” rõ rệt qua màu sắc: màu đỏ tượng trưng cho trung thần, màu xám biểu hiện cho gian thần, màu xanh lục thường dùng cho hồn ma, còn màu đen gắn với những người ngay thẳng, thật thà.

- Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền đặc sắc của Việt Nam, phát triển mạnh ở khu vực Bắc Bộ, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và lan rộng ra Bắc Trung Bộ cũng như Trung du miền núi phía Bắc. Chèo phản ánh chân thực đời sống “tam nông” gồm nông nghiệp, nông dân và nông thôn, từ đó thể hiện rõ nét sinh hoạt và tâm tư của người lao động. Sân khấu chèo mang tính ước lệ, mô hình hóa cao, các nhân vật thường được xây dựng thành những hình tượng điển hình. Đồng thời, chèo còn là nghệ thuật của sự đồng cảm, thể hiện qua sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố gián cách và hòa cảm, giữa cái khách quan và chủ quan, giữa thực và hư trong quá trình tái hiện đời sống và nội tâm nhân vật trên sân khấu.

Câu 2 (trang 151 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

- Cần phải giữ gìn và bảo tồn những loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian và đưa chúng phát triển hơn. Dù thời gian ra đời từ rất lâu nhưng những loại hình nghệ thuật này đã được ông cha ta đúc kết và xây dựng, nó phản ánh đặc điểm văn hóa của tổ tiên cha ông ta.

Sau khi học bài, em cảm thấy rất tự hào về các loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian của dân tộc như chèo, tuồng và múa rối nước. Đây không chỉ là những hình thức giải trí mà còn là những di sản văn hóa quý báu, chứa đựng giá trị lịch sử, nghệ thuật và tinh thần dân tộc sâu sắc. Em cũng cảm thấy yêu thích hơn và có ý thức trân trọng, gìn giữ những loại hình nghệ thuật này. Đồng thời, em nhận thấy mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có trách nhiệm tìm hiểu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại.

Câu 3 (trang 151 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Chèo ra đời và phát triển từ nghệ thuật diễn xƣớng dân gian, bắt nguồn từ trò nhại cách nay khoảng 1.000 năm, là sản phẩm của người nông dân, phục vụ nhu cầu giải trí của người nông dân trong các dịp lễ tết, đình đám, khao vọng. 1.000 năm qua, nghệ thuật chèo đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Dưới tác động của văn hóa phƣơng Tây, khi nền văn học dân tộc trong trạng thái chuyển đổi hệ hình từ phạm trù “trung đại” sang phạm trù “hiện đại”, từ phạm trù “dân tộc” sang phạm trù thế giới”, tất cả các loại hình văn học - nghệ thuật đều đồng loạt cách tân (đổi mới). Chèo đi từ quê ra phố thị, đánh dấu sự trở lại và tìm chỗ đứng trong lòng công chúng thành phố. Do nhu cầu thưởng thức của tầng lớp thị dân đương thời, để bắt kịp xu hướng đổi mới của các loại hình văn học - nghệ thuật khác, từ rất sớm, chèo cổ đã trải qua hai cuộc cách mạng, cách tân trở thành chèo văn minh (1906) rồi chèo cải lương (1924). Sự đổi mới về phương pháp sáng tác kịch bản chèo đã tạo nên một dấu mốc quan trọng, một bước ngoặt lịch sử. 

Trong văn học, thể loại kịch trong đó có kịch hát, cụ thể là tuồng, chèo là lĩnh vực liên ngành, vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học. Kịch bao gồm văn bản, đồng thời còn thuộc nghệ thuật trình diễn. Như vậy, một mặt vừa phải xem kịch như một thể loại văn học bên cạnh các thể loại khác, mặt khác phải kết hợp khảo sát với thực tế biểu diễn trên sân khấu. Chèo là sân khấu kể chuyện (tự sự) bằng trò nên là hình thức sân khấu diễn kể, diễn để kể, kể để diễn. Câu chuyện được diễn kể trên chiếu chèo được gọi là “tích trò” hay tích diễn. Tích truyện chính là nội dung chính của vở diễn. Là sân khấu kể chuyện nên chèo, tuồng truyền thống coi vở kịch như một câu chuyện đã xảy ra và được diễn lại trên sân khấu. Vì vậy, tích diễn trên sân khấu đóng vai trò quan trọng, có quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc theo trình tự thời gian, không gian. Thời gian của sân khấu chèo là thời gian một chiều. Không gian của sân khấu chèo được giữ nguyên như trong tích truyện, phụ thuộc vào trình tự của thời gian và quá trình hành động theo thời gian của nhân vật. “Cốt truyện” (tình tiết của bản kịch) theo Lại Nguyên Ân còn được gọi là đối tượng, sự việc, đề tài - để gọi tên các câu chuyện, các sự kiện được miêu tả trong đó. Cốt truyện có chức năng quan trọng là bộc lộ các mâu thuẫn của đời sống, tức là thể hiện xung đột. Có các loại cốt truyện như cốt truyện biên niên, cốt truyện đồng tâm (hoặc cốt truyện ly tâm, cốt truyện hướng tâm), cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến. Cốt truyện được xây dựng bằng nhiều biện pháp kết cấu khác nhau.

Cốt truyện trong kịch bản chèo truyền thống là cốt truyện đơn tuyến. Toàn bộ cốt truyện tức câu chuyện kể được dựng trên một trục, xoay quanh cuộc đời nhân vật chính. Như vở Trương Viên, nhân vật chính của vở là Thị Phương. Cả cốt truyện chỉ xoay quanh cuộc đời của Thị Phương, bắt đầu từ mảnh trò Trương Viên hỏi vợ. Sau đó, Trương Viên từ biệt Thị Phương tham gia chiến trận. Thị Phương và mẹ chồng loạn lạc đi tìm chồng, bị lọt vào hang quỷ. Thị Phương phải cắt thịt cánh tay nuôi mẹ chồng, khoét mắt để làm thuốc cho mẹ chồng, được quỷ tha chết vì lòng hiếu với mẹ chồng. Sau đó, trong cảnh mù lòa, Thị Phương hát ở chợ, được quan Thừa tướng Trương Viên mời vào hát, cả nhà hội ngộ đoàn viên.

Cốt truyện trong kịch bản chèo cổ tuy chứa xung đột nhưng ý tưởng của kịch không nhất thiết bộc lộ từ sự va đập trực tiếp của xung đột, như dạng kịch luận đề mà nằm ở toàn bộ diễn tiến của cốt truyện. Nhưng cũng có thể mâu thuẫn và xung đột chỉ xảy ra trong những sự kiện riêng biệt của cốt truyện mà sự kiện sau không nhất thiết phải có quan hệ nhân quả với sự kiện trước. Mâu thuẫn xung đột nảy sinh và được giải quyết ngay trong từng sự kiện”. [1, tr.148]. Khảo sát vở Quan Âm Thị Kính, ngoài lớp giáo đầu, còn có các lớp trò: Thiện Sĩ hỏi vợ; Mãng ông gả Thị Kính cho Thiện Sĩ; sự biến thứ nhất: Thị Kính định cắt râu chồng nên bị đổ oan giết chồng (nỗi oan thứ nhất); Thị Kính đi tu ở chùa Vân; Thị Mầu lên chùa; Nô và Màu, Việc làng; sự biến thứ hai: Thị Kính bị Thị Mầu vu oan là “tác giả” cái thai cô đang mang (nỗi oan thứ hai), Thị Mầu “trả” con cho Tiểu Kính; Tiểu Kính nuôi con Thị Mầu; Thị Kính chết, nỗi oan giải tỏ, Phật tổ ban sắc,

Tiểu Kính thành Phật. Cuối cùng là lớp Chạy đàn. Ta thấy, cốt truyện của vở Quan Âm Thị Kính có nhiều xung đột. Tuy nhiên, câu chuyện trải dài cả các lớp trò kể trên để toát nên sự Nhẫn của Thị Kính, chứ không phải hai xung đột (cắt râu chồng, bị Thị Màu vu oan) kể trên tạo nên sự thắt nút, cao trào để bộc lộ ý nghĩa của cốt truyện.

Với sân khấu chèo cổ, vị trí quan trọng của vở dành cho nghệ thuật biểu diễn ngẫu hứng của người diễn viên. Còn kịch bản chỉ là một yếu tố của trò diễn, gọi là thân trò thôi. Ước lệ đảm bảo cho người xem vẫn có thể hiểu được đầy đủ những gì nội dung vở chèo biểu diễn, dù đã có sự lược bỏ khá nhiều chi tiết, ước lệ giúp người xem phát huy trí tưởng tượng của mình. Vì vậy, những tình tiết trong cốt truyện được lựa chọn kỹ càng, những tình tiết nào quan trọng thể hiện được tư tưởng, chủ đề của vở diễn mới được đưa lên sân khấu.

Phương thức lưu truyền của kịch bản chèo là truyền miệng. Sự tồn tại của chèo chính là trong trí nhớ của những nghệ nhân, nông dân vì vậy tạo ra các dị bản. Các vở chèo cổ có kịch bản không trùng khít nhưng vẫn thống nhất về cốt truyện (tích truyện). Tính ứng diễn đáp ứng nhu cầu người xem nên một vở chèo diễn ở những làng khác nhau, trong những đêm diễn khác nhau không giống nhau. Vì vậy, cốt truyện có tính không cố định với kết cấu mở. Sự thêm nội dung vào làm cho những vở chèo quen thuộc trở nên hấp dẫn. Tính ứng diễn là cơ sở quan trọng để đánh giá tài năng, sự thành công, nét đặc sắc của một gánh chèo. Chèo cổ là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng. Trình tự phát triển của các cốt truyện đều được diễn ra theo lối kể chuyện, lướt nhanh ở những đoạn không cần thiết, nhấn sâu vào những mảng xung đột lớn nơi có điều kiện phát huy tiềm năng ca hát, âm nhạc, vũ đạo, diễn xuất gây ấn tượng mạnh mẽ. Trong những lớp đặc tả trọng tâm này, các nhân vật chính thường được đặt vào những tình huống điển hình với những hành động đã vượt lên ranh giới tả thực, được kỳ lạ hoá, mỹ lệ hoá chứa đựng được dung lượng lớn lao điều tác giả muốn nói.

Lịch sử Việt Nam đến nay đã trải qua 3 lần giao lưu văn hóa. Cuộc giao lưu lần hai từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945 chủ yếu là ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Cuộc tiếp biến văn hóa này thực sự là một cuộc cách mạng, làm văn học - nghệ thuật Việt Nam chuyển mình từ văn học dân gian thành văn chương bác học (văn học viết), đi từ nền văn học trung đại (phong kiến) sang văn học hiện đại. Chèo chỉ nằm ở không gian văn hóa Bắc bộ, nơi đã tồn tại tứ chiếng chèo xưa. Không gian văn hóa của chèo hàng nghìn năm qua vẫn không thay đổi. Do đó, chèo là loại hình nghệ thuật khó biến đổi, dù không còn thời hưng thịnh như xưa nhưng chèo đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể mà bất kì người Việt Nam nào cũng biết tới.

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Đình Ngôn, Trần Văn Hiếu chủ biên (2011), Nguyễn Đình Nghị cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Sân khấu, Hà Nội.

Trong số các đề tài được gợi ý, em lựa chọn nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật của sân khấu chèo truyền thống Việt Nam. Đây là một đề tài vừa gần gũi, vừa giàu giá trị văn hóa, giúp người viết có cơ hội khám phá sâu hơn một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của dân tộc. Trước hết, sân khấu chèo mang đậm tính dân gian và phản ánh chân thực đời sống của người nông dân, đặc biệt là trong không gian làng quê Bắc Bộ. Nội dung các vở chèo thường xoay quanh những câu chuyện quen thuộc trong đời sống hằng ngày, qua đó thể hiện ước mơ về công lí, hạnh phúc và những giá trị đạo đức truyền thống.

Bên cạnh nội dung, nghệ thuật chèo còn nổi bật ở phương diện hình thức biểu diễn. Ngôn ngữ chèo giàu tính biểu cảm, kết hợp hài hòa giữa lời nói và lời hát, đồng thời vận dụng linh hoạt ca dao, tục ngữ, thành ngữ, tạo nên sự gần gũi với người xem. Diễn xuất trong chèo mang tính ước lệ, cách điệu, các nhân vật thường được xây dựng theo những kiểu hình tượng điển hình như đào thương, đào lệch, hề chèo,… qua đó làm nổi bật tính cách và số phận của từng nhân vật. Âm nhạc và làn điệu chèo cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần thể hiện tâm trạng và diễn biến nội tâm của nhân vật một cách tinh tế.

Ngoài ra, một đặc điểm đáng chú ý của sân khấu chèo là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và yếu tố hài hước, châm biếm. Điều này không chỉ giúp tác phẩm trở nên sinh động mà còn tạo nên sức hấp dẫn riêng, khiến chèo dễ dàng đi vào lòng người. Qua đó, chèo không chỉ phản ánh hiện thực mà còn thể hiện thái độ phê phán xã hội, bênh vực những con người lương thiện.

Có thể thấy, sân khấu chèo truyền thống Việt Nam là sự kết tinh của nhiều giá trị nghệ thuật độc đáo, từ nội dung đến hình thức biểu hiện. Việc tìm hiểu về đặc điểm nghệ thuật của chèo không chỉ giúp em hiểu rõ hơn về loại hình sân khấu này mà còn góp phần nâng cao ý thức trân trọng và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong đời sống hiện đại.

Câu 4 (trang 151 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Dành thời gian để xem trực tiếp hoặc xem qua internet các vở diễn chèo, tuồng nổi tiếng. Có thể tìm đọc thêm một số tài liệu nghiên cứu chèo, tuồng để bổ sung kiến thức về các loại hình nghệ thuật sân khấu đặc sắc này của dân tộc.

- Về chèo cổ có thể tìm đọc: Tuyển tập chèo cổ, NXB Sân khấu, Hà Nội, 1999; Trần Việt Ngữ, Về nghệ thuật chèo, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2013; Bùi Đức Hạnh, 150 làn điệu chèo cổ, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2006; Hà Văn Cầu, Hề chèo, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005;…

- Về tuồng, có thể tìm đọc: Mịch Quang, Tìm hiểu nghệ thuật tuồng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2017; Hoàng Châu Ký (Chủ biên), Tổng tập văn học Việt Nam, tập 15A, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 12, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000;…

Để hiểu rõ hơn về chèo và tuồng, em có thể dành thời gian xem các trích đoạn chèo, tuồng nổi tiếng trên internet hoặc nếu có điều kiện thì xem trực tiếp tại nhà hát. Việc này giúp em cảm nhận rõ hơn về cách biểu diễn, âm nhạc, hóa trang và không khí sân khấu. Bên cạnh đó, em cũng có thể tìm đọc thêm các tài liệu nghiên cứu như Tuyển tập chèo cổ, Về nghệ thuật chèo, 150 làn điệu chèo cổ đối với chèo; hoặc Tìm hiểu nghệ thuật tuồng, Tổng tập văn học Việt Nam đối với tuồng. Những tài liệu này sẽ giúp em mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về giá trị của các loại hình nghệ thuật truyền thống.