Soạn bài Huyện đường - Kết nối tri thức
Soạn bài Huyện đường - Kết nối tri thức
Với soạn bài Huyện đường trang 132, 133, 134, 135, 136 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.
Soạn bài Huyện đường - Kết nối tri thức
* Trước khi đọc
Câu 1 (trang 132 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Em đã từng xem biểu diễn tuồng qua truyền hình. Em thấy tuồng là loại hình sân khấu truyền thống đặc sắc với cách hóa trang, hát và biểu diễn rất độc đáo. Tuy nhiên, hiện nay tuồng đang gặp khó khăn vì ít khán giả trẻ quan tâm. Theo em, cần quảng bá và đổi mới cách tiếp cận để nghệ thuật tuồng đến gần hơn với công chúng hiện đại.
- Tôi đã từng xem biểu diễn tuồng (trực tiếp hoặc qua video) và cảm nhận đây là một loại hình nghệ thuật rất độc đáo, giàu tính ước lệ và giàu giá trị văn hóa dân tộc.
- Tuy nhiên, tuồng đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận khán giả hiện đại vì nội dung và hình thức biểu diễn có phần xa lạ, khó hiểu với giới trẻ.
- Theo tôi, cần có sự đổi mới trong cách dàn dựng, kết hợp với truyền thông hiện đại để bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật tuồng.
Câu 2 (trang 132 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Video trực tuyến (YouTube): Tìm kiếm với các từ khóa: “Nghêu Sò Ốc Hến trọn bộ”, “Tuồng Nghêu Sò Ốc Hến”, hoặc “Trích đoạn Huyện đường Nghêu Sò Ốc Hến”.
- Các phiên bản nổi tiếng:
Vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến do NSND Đàm Liên và các nghệ sĩ Nhà hát Tuồng Việt Nam biểu diễn.
Các trích đoạn kịch/chèo sân khấu trường lớp thường tái hiện cảnh Huyện đường đầy tính châm biếm.
- Nội dung trích đoạn Huyện đường: Tập trung vào cảnh tri huyện và đề lại bàn bạc nhũng nhiễu người kiện, xử vụ Ốc và Sò nhằm vòi tiền.
- Có thể tìm xem các trích đoạn của tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến trên các nền tảng như YouTube.
- Ngoài ra, có thể tìm trên các website của nhà hát chèo Việt Nam hoặc các kênh văn hóa nghệ thuật để xem bản đầy đủ hoặc trích đoạn chất lượng.
* Đọc văn bản
Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc:
1. Cách bài trí nơi huyện đường - những chỉ dẫn cho việc thiết kế sân khấu.
- Trên tường là bức hoành phi đề hai chữ “Huyện đường”. Hai bên có hai câu đối. Bên cạnh câu đối phía trái có cửa vào nhà trong
- Một chiếc bàn to để chính giữa. Trên bàn có ống bút, nghiên mực, điếu bình
- Bên trái, bàn giấy của viên đề lại để xây mặt ra khán giả phía phải của sân khấu, trên bàn cũng có nghiên bút và một chồng đơn từ
- Không gian huyện đường được miêu tả cụ thể với bàn giấy, ống bút, nghiên mực, điếu bình, câu đối, hoành phi,… → đây là những chỉ dẫn rõ ràng cho việc dàn dựng sân khấu.
- Cách bố trí trung tâm (bàn tri huyện ở giữa, các vị trí hai bên) giúp xác định vị trí diễn xuất của từng nhân vật.
- Những chi tiết này vừa mang tính ước lệ, vừa đủ gợi để khán giả hình dung bối cảnh quan lại thời xưa.
- Qua đó cho thấy sân khấu tuồng chú trọng tính tượng trưng nhưng vẫn đảm bảo tính định hướng không gian.
2. Lưu ý cách tự giới thiệu của nhân vật trong tuồng.
- Nhân vật tự bạch để tự giới thiệu mình
- Nhân vật tri huyện tự giới thiệu bằng lời “nói lối”, nêu rõ chức vị và quyền lực của mình. Cách giới thiệu mang tính khoa trương, phô trương quyền thế, thể hiện rõ địa vị xã hội.
- Đây là đặc trưng của tuồng: nhân vật thường tự xưng danh để khán giả nhận diện nhanh. Đồng thời, lời giới thiệu cũng góp phần bộc lộ tính cách (tham lam, hách dịch).
3. Chú ý sự hể hả, trắng trợn của tri huyện khi tự “thưởng thức” những mưu mô của mình
Những lời thoại bộc lộ mưu mô của tri huyện:
- Thằng Sò này giàu lắm, chúng mình có thể “ấy” được
- Phải nắm đứa có tóc ai nắm kẻ troc đầu. (cười khoái trá). Xử Ốc năm năm tù, Nghêu phạt đòn năm chục trượng, lí trưởng đòi ăn lót cần phạt trừn giới năm mươi quan tiền.
- Tri huyện tự nói về việc xử án như một trò kiếm tiền (“được thua tự đồng tiền”), thể hiện rõ bản chất tham nhũng.
- Lời lẽ mang tính khoe khoang, đắc ý, tạo nên yếu tố hài hước nhưng đầy châm biếm.
- Nhân vật vừa đáng cười vừa đáng lên án vì coi công lí như món hàng mua bán.
- Đây là thủ pháp trào phúng nhằm phơi bày bộ mặt xấu xa của quan lại.
4. Hoạt động “ăn ý” giữa tri huyện và đề lại
- Đoạn hội thoại kẻ tung người hứng của tri huyện và đề lại từ “vụ ấy à?” đến “thầy hiểu chứ?”
- Tri huyện và đề lại phối hợp nhịp nhàng trong việc xử án theo hướng có lợi cho mình.
- Hai người hiểu ý nhau, cùng hướng đến mục đích nhận hối lộ và bóp méo công lí.
- Lời đối đáp ngắn gọn, ngầm hiểu cho thấy sự cấu kết chặt chẽ giữa quan và tay sai.
- Điều này phản ánh bộ máy quan lại mục ruỗng, tha hóa.
5. Điều gì sẽ xảy ra sau lời nói này của lính lệ A?
- Trên sân khấu sẽ diễn ra vụ xử án của tri huyện với Nghêu, Sò, Ốc, Hến
- Lời nhắc của lính lệ A cho thấy việc “chạy án”, hối lộ đã được chuẩn bị trước.
- Sau đó, các nhân vật như lí trưởng, Trùm Sò, Thị Hến sẽ tìm cách đưa tiền để mong được xử nhẹ hoặc thắng kiện.
- Phiên xử sẽ diễn ra theo hướng thiên vị, không công bằng, phụ thuộc vào tiền bạc.
- Điều này làm nổi bật tính chất hài hước nhưng cũng phê phán sâu sắc xã hội phong kiến bất công.
* Sau khi đọc
Nội dung chính:
Văn bản kể lại thời gian trước khi vào xử án vụ trộm, tri huyện và đề lại bàn bạc nhau xử thế nào cho có lợi, có thể ăn được tiền.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc:
Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Tri huyện tự bạch
- Đề lại và tri huyện tính toán, bày mưu để có thể lấy được tiền từ vụ xét xử
- Tri huyện cho gọi bên nguyên, bên bị, nhân chứng vụ Nguyễn Sò vào
- Lính lệ tranh thủ kiếm lợi từ những người đến xét xử
Tóm tắt các sự việc trong đoạn trích.
- Mở đầu là cảnh huyện đường, tri huyện xuất hiện và tự giới thiệu.
- Đề lại vào báo cáo tình hình kiện tụng, đặc biệt là vụ Thị Hến – Trùm Sò.
- Tri huyện và đề lại bàn bạc cách xử án theo hướng có lợi về tiền bạc.
- Lính lệ được sai gọi các bên liên quan vào xét xử, đồng thời ngầm gợi ý việc “chạy án”.
- Chuẩn bị diễn ra phiên xử với sự thiên vị, bất công đã được sắp đặt trước.
Câu 2 (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
Trả lời:
|
Tri huyện |
Đề lại |
Lính lệ |
|
- Thằng Sò này giàu lắm, chúng mình có thể “ấy” được - Phải nắm đứa có tóc ai nắm kẻ troc đầu. (cười khoái trá). Xử Ốc năm năm tù, Nghêu phạt đòn năm chục trượng, lí trưởng đòi ăn lót cần phạt trừn giới năm mươi quan tiền. - Ăn thua là những chỗ khó đấy đấy, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, nói thế nào lại chả được. Thị Hến thì cũng có thể cho về nhưng chưa nên xử vội, vì xử Hến thì phải xử Sò. |
- Ta cứ để tra cứu đã. Thưa còn thằng Ốc, thằng Ngheei, lí trưởng, thị Hến thì liệu xử cho xong, bọn này toàn đầu trọc cả. - Bẩm quan xử thật sâu sắc, nhưng đã xử Nghêu và Ốc rồi thì lấy gì mà không xử Sò với Hến được. |
- Nhắc lại ông Trùm, anh xã và chị Hến biết rằng hôm nay quan bận lắm, tôi lẩm bẩm mãi quan mưới chịu xử vụ này đấy. |
- Tri huyện: “Được thua tự đồng tiền” → coi công lí là công cụ kiếm tiền.
- Tri huyện: “Thằng Sò này giàu lắm, chúng mình có thể ‘ấy’ được” → có ý định vòi tiền.
- Đề lại: “Đã xử Nghêu và Ốc rồi thì lấy lí gì mà không xử Sò và Hến được” → hùa theo, tiếp tay cho quan.
- Lính lệ A: nhắc khéo các bên phải “bẩm mãi quan mới chịu xử” → ám chỉ việc hối lộ.
→ Tất cả đều giống nhau ở bản chất tham lam, lợi dụng quyền lực để trục lợi.
Câu 3 (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Vì tri huyện và đề lại đều có ý đồ và mục đích như nhau, cùng bàn bạc với nhau để làm sao chuộc lợi chứ không cần xét đúng hay sai
- Khi đề lại hỏi về viêc xét xử vụ trộm thì tri huyện lập tức nghĩ ngay tới việc nhũng nhiễu những người kêu kiện, cụ thể là biết Sò giàu nên quyết định sẽ moi tiền từ chỗ của Sò và nói dối là để tra cứu. Đề lại và tri huyện giải quyết vụ trộm bằng cách ai có tiền thì sẽ phạt tiền còn kẻ “đầu trọc” thì phạt tù hoặc đánh. Hơn thế nữa, tri huyện còn quyết định xử Sò và Hến sau để dễ bề chuộc lợi.
- Hai nhân vật cùng chung mục đích: kiếm tiền từ việc xử kiện nên không cần che giấu.
- Họ hiểu ý nhau nhanh chóng, chỉ cần nói nửa câu là người kia đã nắm được.
- Lời thoại có sự hô ứng nhịp nhàng: tri huyện gợi ý → đề lại hưởng ứng, bổ sung.
- Cách đối đáp ngắn gọn, tự nhiên thể hiện sự cấu kết lâu dài, ăn ý trong việc làm sai trái.
Câu 4 (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Người Việt xưa không coi chốn công đường là nơi đòi lại công bằng, mà là nơi đục khoét của bọn quan lại nhũng nhiễu, chuyên vơ vét của người dân
- Ở chốn công đường trang nghiệm lại xảy ra sự trái ngược hài hước châm biếm khi người nhiều tiền thì được vô tội còn không có tiền sẽ bị phạt
- Đoạn trích vừa là lên án sự thật đổ đốn của quan lại, vừa là tiếng cười châm biếm cho chế độ thống trị thời phong kiến.
Thái độ và cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn “cửa quan”.
- Người dân nhìn “cửa quan” như nơi bất công, đầy tiêu cực và tham nhũng.
- Công lí không dựa vào lẽ phải mà phụ thuộc vào tiền bạc, quan hệ.
- Thái độ vừa châm biếm, mỉa mai, vừa thể hiện sự bất bình của nhân dân.
- Qua đó, cho thấy niềm tin vào quan lại bị suy giảm nghiêm trọng.
Câu 5 (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Trong lời giới thiệu của tri huyện có nhắc tới chức vụ, quyền uy, thậm chí cả những thói hư tật xấu, cách phân xử vô lí dựa vào đồng tiền để phân định. Từ đó ta thấy được con người nhu nhược, bỉ ổi của tri huyện, chuyên tham nhũng đút lót của nhân dân.
- Trong lời giới thiệu hàng ngày, người ta thường giới thiệu những ưu điểm, đặc điểm nổi trội để gây ấn tượng với đối phương. Trong tuồng, nhân vật giới thiệu tất cả chức vụ, tính cách, phẩm chất tốt hay xấu.
- Lời tự giới thiệu cho thấy tri huyện là kẻ hách dịch, tham lam, coi thường công lí.
- Ông ta tự hào về quyền lực và những thủ đoạn kiếm tiền từ việc xử án.
- Trong tuồng, lời tự giới thiệu thường khoa trương, bộc lộ rõ tính cách nhân vật.
- Khác với đời sống: người thật thường giới thiệu khách quan, khiêm tốn hơn, không phơi bày bản chất xấu xa.
Câu 6 (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
- Nếu được tham gia dựng lại cảnh Huyện đường trên sân khấu, ngoài lời thoại, động tác biểu cảm trên gương mặt của diễn viên, em sẽ lưu ý giọng điệu khi nói của nhân vật. Bởi mỗi một nhân vật có giọng điệu đặc trưng khác nhau, qua giọng điệu có thế biết đâu là nhân vật ngay thẳng, đâu là nhân vật lệch. Giọng điệu cũng góp phần trong việc thể hiện nội dung của thoại.
- Cần thể hiện rõ tính cách nhân vật qua giọng điệu: tri huyện hách dịch, đề lại nịnh bợ, lính lệ ranh mãnh.
- Kết hợp động tác cường điệu, điệu bộ đặc trưng của tuồng để tăng tính sân khấu.
- Nhấn mạnh yếu tố hài hước, châm biếm nhưng vẫn làm nổi bật ý nghĩa phê phán.
- Vì tuồng là nghệ thuật biểu diễn tổng hợp, hiệu quả phụ thuộc nhiều vào diễn xuất hơn là lời thoại.
* Kết nối đọc – viết
Bài tập (trang 136 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn trích Huyện đường được trích từ tác phẩm Nghêu, Sò, Ốc, Hến thể hiện cảnh tri huyện và đề lại bàn bạc với nhau về cách nhũng nhiễu người kêu kiện. Qua lời nói của tri huyện cho thấy sự gian xảo và dối tra khi nghĩ ngay tới việc kiếm chác tiền từ trùm Sò, ngang nhiên bàn bạc những ý đồ cùng với đề lại mà không cần giữ ý. Tên đề lại bên cạnh tri huyện cũng không kém phần mưu mô khi “kẻ tung người hứng” cùng với tri huyện để đạt được mục đích, thậm chí đề lại còn khen cách phân xử của tri huyện rằng “quan xử hay lắm” dù thực chất cả hai người đều không xử gì mà chỉ nhìn vào cái lợi. Không dừng lại ở tri huyện, đề lại ngay cả nhân vật lính lệ, kẻ ở dưới cũng ngang nhiên nói dối để kiếm tiền từ dân. Tiếng cười châm biếm đả kích ngay trong không gian trang nghiêm của chốn cửa quan. Sự đối nghịch giữa hành động lời nói của các nhân vật ngay trong chốn công đường đã tạo nên sự châm biếm trong đoạn trích.