Soạn bài Cô bé bán diêm (trang 61-65) - Kết nối tri thức

3,751 từ~19 phút đọc

Soạn bài Cô bé bán diêm (trang 61-65) - Kết nối tri thức

Với soạn bài Cô bé bán diêm trang 61, 62, 63, 64, 65 Ngữ văn 6 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 6 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 6.

Soạn bài Cô bé bán diêm (trang 61-65) - Kết nối tri thức

* Trước khi đọc

Câu 1 (trang 60 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Truyện kể hoặc bộ phim có nhân vật trẻ em gây ấn tượng là: 

+ Cô bé bán diêm

+ Hoàng tử bé, …

- Em đã xem nhiều bộ phim hoạt hình có nhân vật trẻ em, trong đó em ấn tượng và có nhiều cảm xúc nhất với bộ phim Ngôi mộ đom đóm của Nhật Bản.

- Bộ phim nói về sự khốc liệt của xã hội Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai và ca ngợi tình anh em của hai đứa trẻ mồ côi.

Câu 2 (trang 60 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Một vài cảm nhận của em về nhân vật đó: 

Ví dụ: Nhân vật cô bé bán diêm: ngoan ngoãn, yêu quý, đáng thương, … 

Em ấn tượng với nhân vật người anh Seita, cậu bé chỉ mới hơn 10 tuổi nhưng đã thay cha mẹ gánh vác nuôi em gái. Hai anh em đã chết vì đói khổ và bệnh tật. Hi vọng ở một thế giới nào đó, anh em họ sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn và không có chiến tranh như trong phim.

* Đọc văn bản

Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc: 

1. Theo dõi: Chú ý các chi tiết miêu tả trang phục của cô bé bán diêm giữa trời đông giá rét.  

- Cô bé đầu trần, chân đất

- Lúc ra khỏi phòng có đi giày vải nhưng nó quá rộng nên em đã liên tiếp làm văng mất cả hai chiếc. 

- Mặc chiếc tạp dề cũ kĩ đựng đầy diêm. 

- Các chi tiết miêu tả trang phục: đầu trần, chân đất, mặc chiếc tạp dề cũ kĩ...

2. Dự đoán: Điều gì sẽ đến với cô bé bán diêm trong đêm giao thừa? 

- Giữa trời đông giá rét, cô bé không có giày để đi, chân đỏ ửng lên, tím bầm lại vì rét. 

- Em cố kiếm một nơi có nhiều khách qua lại để bán diêm nhưng khách qua đường đều rảo bước nhanh và không đoái hoài gì đến em. 

- Cả ngày em không bán được bao diêm nào, bụng đói, lang thang trên đường, không ai bố thí cho em chút đỉnh. 

- Cô bé cô đơn, đói rét và đói bụng.

- Không bán được bao diêm nào.

3. Theo dõi: Sau khi bà mất, gia đình cô bé bán diêm rơi vào tình cảnh như thế nào?

- Sau khi bà mất, gia sản tiêu tán, phải rời ngôi nhà xinh xắn để chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa. 

- Em bé không dám về nhà nếu như không bán được bao diêm nào vì sợ bố đánh. 

- Ở nhà cũng rét, cha con em phải ở trên gác, sát mái nhà, mặc dù đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở lớn trên vách nhưng gió vẫn thổi rít vào trong nhà. 

- Sau khi bà mất gia đình phải rời ngôi nhà xinh xắn để rúc vào một xó tối tăm.

- Cô bé nếu như không bán được diêm sẽ không dám về nhà vì sợ bố đánh.

4. Theo dõi: Mỗi lần quẹt diêm, cô bé nhìn thấy những hình ảnh gì? Đó là thực hay mơ?  

- Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dàn biếc đi, trắn ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt. 

- Em tưởng như đang ngồi trước lò sưởi, lửa cháy nom đến vui mắt. 

- Bàn ăn đã dọn, khăn trải bản trắng tinh, toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, một con ngỗng quay. 

- Cây thông Nô-en, những ngọn nến sáng rực lấp lánh trên cành lá. Ngọn nến bay lên trời, biến thành những ngôi sao. 

- Bà nội đang mỉm cười. 

→ Tất cả những hình ảnh này đều là mơ, ảo ảnh, không có thực. 

Mỗi lần quẹt diêm cô bé bán diêm lại được sống trong giây phút hạnh phúc:

- Lần 1: em thấy lò sưởi, vì trong đêm đông giá lạnh em cần được sưởi ấm.

- Lần 2: em thấy một bàn ăn thịnh soạn cho thấy mơ ước lớn nhất lúc này của em là được ăn no.

- Lần 3: em thấy hình ảnh của cây thông. Đó chính là biểu tượng của mái ấm gia đình hạnh phúc.

- Lần 4: bà hiện lên thật ấm áp, đẹp đẽ. Cô bé khẩn thiết van xin bà cho đi cùng.

- Lần cuối cùng: em quẹt hết số diêm còn lại để nhìn thấy bà và thật kì lạ ước nguyện cuối cùng của em đã trở thành hiện thực.

=> Bốn lần quẹt diêm đầu tiên đều là giấc mơ, lần quẹt diêm cuối cùng đã trở thành hiện thực khi em được thoát khỏi thế giới thực tại và đi cùng bà.

5. Theo dõi: Chú ý trình tự xuất hiện của các hình ảnh khi cô bé quẹt diêm: 

- Lần thứ nhất: lò sưởi. 

- Lần thứ hai: bàn ăn thịnh soạn với những món ăn ngon. 

- Lần thứ ba: cây thông Nô-en.

- Lần thứ tư: bà nội hiền hậu. 

- Lần thứ nhất: lò sưởi

- Lần thứ hai: căn phòng có bàn ăn, trên bàn có ngỗng quay

- Lần thứ ba: cây thông Noel

- Lần thứ tư: người bà

- Lần cuối cùng: gặp lại bà và đi theo bà đến nơi hạnh phúc.

6. Đối chiếu: Điều xảy ra với cô bé bán diêm có giống như dự đoán của em không? 

- Em dự đoán cô bé bán diêm sẽ được gặp bà, bà dùng phép màu khiến cô bé không còn phải chịu rét, đói khổ nữa mà được sống sung túc, hạnh phúc. 

- Nhưng cuối cùng, không như dự đoán, cô bé đã theo bà về chầu Thượng đế (đã mất). 

Đúng như dự đoán của em, cô bé bán diêm đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa nhưng em không còn phải đối mặt với đòn roi, nỗi buồn nữa.

7. Theo dõi: Có những hình ảnh trái ngược nào trong quang cảnh ngày đầu năm mới? 

- Mặt trời lên trong sáng, chói chang, mọi người vui vẻ ra khỏi nhà – xó tường hiện ra thi thể em bé gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười đã chết vì rét trong đêm giao thừa giữa những bao diêm trong đó có một bao đã hết nhẵn. 

- Mọi người chỉ bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!” mà không ai giúp đỡ em,… 

Những hình ảnh trái ngược trong quang cảnh ngày năm mới: Trong khung cảnh của năm mới, mặt trời lên trong sáng, chói chang trên bầu trời nhạt, mọi người vui vẻ ra khỏi nhà nhưng có một em bé đã chết trong đêm giao thừa vì lạnh lẽo: “Ở một xó tường, người ta chỉ thấy em với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”.

* Sau khi đọc

Nội dung chính: 

Truyện kể về hình ảnh cô bé bán diêm nghèo khổ, cô đơn, bất hạnh trong đêm giao thừa. Qua đó tác giả muốn gửi gắm một thông điệp giàu tính nhân đạo: hãy yêu thương và để trẻ thơ được sống hạnh phúc.

Soạn bài Cô bé bán diêm (trang 61-65) | Hay nhất Soạn văn 6 Kết nối tri thức

Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc: 

Câu 1 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba, người kể chuyện “giấu mình”, không xuất hiện. 

Truyện Cô bé bán diêm được kể bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ ba (tác giả).

Câu 2 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Bối cảnh diễn ra câu chuyện: đêm gió rét dữ dội, lại là đêm giao thừa. 

- Gia cảnh cô bé: nghèo khổ, bất hạnh, những người yêu thương em đều đã mất. Em đang sống cùng cha, nhà nghèo nên phải đi bán diêm. Trời lạnh nên mọi người đều rảo bước nhanh, chẳng ai đoái hoài đến em. Không bán được bao diêm nào nên em không dám về nhà vì thể nào cha em cũng sẽ đánh em. 

- Cô bé bán diêm phải ở ngoài đường phố trong một đêm giao thừa mùa đông đầy giá rét với tuyết trắng phủ kín phố phường.

- Mặc dù có nhà song em không dám về vì nếu về mà không mang được đồng xu nào thì sẽ bị cha em mắng chửi, đánh đập.

Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Ngoại hình cô bé bán diêm: đầu trần, chân đất giữa ngày giá rét dữ dội; tạp dề cũ kĩ,… 

→ Cô bé phải sống cuộc sống nghèo khổ, đói rét; thiếu tình yêu thương, không có ai quan tâm, chăm sóc,… 

Các chi tiết miêu tả ngoại hình của cô bé bán diêm:  

- Em phải đi chân đất, chân em đỏ ửng hết lên rồi bầm tím lại.

- Chiếc tạp dề cũ kĩ của em đựng đầy diêm và tay em còn cầm thêm một bao.

- Bông tuyết bám dày trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em.

=> Cuộc sống của nhân vật qua chi tiết: Sự nghèo khổ thiếu thốn không chỉ về vật chất mà còn là về tinh thần, thiếu đi tình yêu được bao bọc của những người thân trong gia đình.

Câu 4 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Các lần quẹt diêm và hình ảnh hiện ra: 

+ Lần thứ nhất: lò sưởi. 

+ Lần thứ hai: bàn ăn thịnh soạn với những món ăn ngon: con ngỗng quay, … 

+ Lần thứ ba: cây thông Nô-en.

+ Lần thứ tư: bà nội hiền hậu. 

- Ý nghĩa các lần quẹt diêm này: 

+ Hình ảnh lò sưởi xuất hiện lần đầu tiên vì cô bé đang phải chịu đựng cái rét dữ dội. 

+ Hình ảnh bàn ăn, con ngỗng quay lần thứ 2 vì em đang rất đói. 

+ Em bé cô đơn khao khát tổ ấm, tình yêu thương, niềm vui, … nên mơ về cây thông Nô-en và người bà yêu quý. 

→ Như vậy trình tự xuất hiện của các hình ảnh đã được nhà văn miêu tả một cách hợp lí.

- Những hình ảnh xuất hiện sau mỗi lần quẹt diêm thể hiện ước mơ được sưởi ấm, được ăn no và được gặp bà của cô bé bán diêm.

- Theo em, không thể thay đổi trình tự xuất hiện của các hình ảnh này được bởi vì thứ tự của những hình ảnh này thể hiện được mức độ tăng dần của nỗi khao khát của cô bé bán diêm với những sự vật ấy. Nỗi khát khao lớn nhất của cô bé trong đêm giao thừa đó là được gặp người bà mà luôn yêu thương cô hết mức. Nếu như thay đổi thứ tự xuất hiện của những hình ảnh đó thì truyện sẽ mất đi ý nghĩa của nó.

Câu 5 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Thái độ, tình cảm của người kể chuyện qua cách miêu tả ngoại hình và tình cảnh của cô bé bán diêm: 

+ Em bé đáng thương, bụng đói rét vẫn lang thang trên đường. 

+ Bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý…. 

- Cách nhấn mạnh sự tương phản giữa những ảo ảnh hiện lên sau mỗi lần quẹt diêm và hình ảnh của hiện thực phũ phàng khi diêm tắt; cách kể về cái chết của cô bé; … 

→ Vai trò của người kể chuyện và ý nghĩa của lời kể: Không chỉ tái hiện bức tranh đời sống mà còn thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá về bức tranh đời sống ấy. 

+ Giúp người đọc cảm nhận được nỗi xót xa, thương cảm và niềm yêu thương, trân trọng của người kể chuyện dành cho cô bé bán diêm. 

+ Qua cách kể câu chuyện, cô bé bán diêm không chỉ hiện lên là một thân phận đau khổ, bất hạnh mà còn thơ ngây, trong sáng, đáng yêu như một thiên thần, xứng đáng được hưởng những gì đẹp đẽ, an lành, hạnh phúc nhất. 

- Câu chuyện thể hiện tình yêu thương sâu sắc của nhà văn đối với số phận bất hạnh của cô bé bán diêm.

- Các chi tiết:

+ Khắc họa hình ảnh nhân vật với hoàn cảnh đáng thương.

+ Giọng điệu đầy cảm thông, chia sẻ “…nhưng em không thể về nhà lúc này được, cha em sẽ đánh em”; “chà, giá có thể bật que diêm lên để sưởi cho ấm nhỉ!”…

+ Tái hiện những ước muốn của cô bé phù hợp với mong ước của em.

- Qua câu chuyện, nhà văn muốn truyền tải thông điệp: hãy yêu thương trẻ thơ và cho chúng được sống một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc.

Câu 6 (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Những câu văn miêu tả thái độ, hành động của người đi đường: 

+ Chẳng ai đoái hoài …, chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh …, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm… 

+ Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà…, Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên tử thi em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã hết nhẵn. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!”. 

- Suy nghĩ về cách ứng xử của người qua đường, có nhiều ý kiến trái chiều nhau: 

+ Ý kiến 1: Thông cảm với người đi đường: Họ không để ý đến em vì quá vội vã trong ngày cuối năm nhiều bận rộn, vì giá rét; vì muốn nhanh chóng về với gia đình của mình,… 

+ Ý kiến 2: Phê phán người đi đường đã thờ ơ, vô cảm trước một em bé đáng thương, cần được giúp đỡ; dửng dưng như hoàn toàn vô can trước cái chết của em. 

→ Đề cao ý kiến 2 hơn vì: qua câu chuyện này, chúng ta cảm nhận được thông điệp mà An-đéc-xen muốn gửi gắm. Nhà văn không chỉ dành trọn tình yêu thương cho cô bé bán diêm mà còn thể hiện thái độ phê phán mạnh mẽ đối với sự thờ ơ, vô cảm trước con người, nhất là trước nỗi bất hạnh của trẻ thơ. 

- Cách ứng xử của người đi đường trước tình cảnh của em bé bán diêm: “Khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em, chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh”, “khách qua đường vội vã mặc quần áo ấm đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với hoàn cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm”, “Mọi người bảo nhau: chắc nó muốn sưởi ấm”.

- Đây là thái độ và sự ứng xử thờ ơ, thiếu sự đồng cảm và tình yêu thương giữa con người đối với con người.

Câu 7*. (trang 65 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Sự tương phản giữa thời tiết giá lạnh, gió rét dữ dội; giữa đêm giao thừa khi bao nhiêu gia đình đang quây quần, sum họp với hình ảnh “em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối” : nhấn mạnh tình cảnh đáng thương, tội nghiệp của cô bé bán diêm. 

- Sự tương phản giữa quá khứ êm đềm, hạnh phúc khi bà còn sống với hiện tại đau khổ, bất hạnh của cô bé không ai chăm sóc, yêu thương. 

- Sự tương phản giữa những ảo ảnh hiện lên khi em bé quẹt diêm với những hiện thực nghiệt ngã khi diêm tắt: gợi niềm xót xa, thương cảm với em bé thơ ngây đang phải chịu cảnh đói rét, cô đơn. 

- Sự tương phản giữa khung cảnh tươi sáng “mặt trời lên trong sáng, chói chang”, không khí tươi vui của ngày đầu năm mới với cảnh tượng em bé chết rét nơi xó tường “ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã hết nhẵn”: thể hiện nỗi đau đớn trước cái chết của em bé; lên án sự thờ ơ, vô cảm của con người. 

- Hình ảnh, chi tiết tương phản được tác giả sử dụng:

+ Cảnh đoàn tụ của các gia đình trong đêm giao thừa với cảnh giá rét, đơn độc ngoài đường phố của cô bé bán diêm.

+ Không khí tươi vui ngày đầu năm mới với cảnh tượng em bé chết rét nơi xó tường.

- Tác giả sử dụng những hình ảnh tương phản đó để làm nổi bật hoàn cảnh tội nghiệp của cô bé; phê phán sự thơ ơ, vô cảm của lòng người.

Câu 8 (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Về kết thúc truyện “Cô bé bán diêm” có nhiều ý kiến khác nhau: 

+ Truyện kết thúc không giống như nhiều truyện cổ tích khác vì cô bé bán diêm đã chết rét ngoài đường phố, ngay trong đêm giao thừa. 

+ Truyện kết thúc “có hậu” vì cô bé bán diêm đã ra đi như một thiên thần; được đoàn tụ với người bà yêu quý ở nơi “chẳng còn đói rét, đau khổ nào đe dọa họ nữa” 

+ Kết thúc của truyện vừa có điểm giống (em bé được nhìn thấy những điều kì diệu, bay lên trong cảnh huy hoàng) vừa có điểm khác biệt (cái chết của nhân vật chính) với nhiều truyện cổ tích khác. 

→ Thể hiện tinh thần nhân đạo của tác giả: Nhà văn không chỉ dành trọn tình yêu thương cho cô bé bán diêm mà còn thể hiện thái độ phê phán mạnh mẽ đối với sự thờ ơ, vô cảm trước con người, nhất là trước nỗi bất hạnh của trẻ thơ. 

Những câu chuyện cổ tích thường kết thúc có hậu: nhân vật chính được hưởng cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Theo em, truyện cổ tích Cô bé bán diêm cũng đã có một kết thúc có hậu (khi nói về phương diện giải phóng số phận con người). Cái chết của cô bé bán diêm khốn khổ là một cảnh tượng thương tâm, nhưng đây là một cái chết đẹp, hình hài thể xác chết mà linh hồn, khát vọng của em bé vẫn sống, sống trên đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười, sống trong cảnh tượng huy hoàng cùng bà bay lên đón năm mới. Nói về cái chết, người ta hay nghĩ tới bi kịch. Viết về cái chết của cô bé bán diêm như thế, nhưng tác phẩm của An-đéc-xen là một bi kịch lạc quan.

* Viết kết nối với đọc 

Bài tập (trang 66 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) với nhan đề: Gửi tác giả truyện “Cô bé bán diêm” 

Gợi ý:

- Đoạn văn cần có các ý: 

+ Chia sẻ với nhà văn tình cảm xót thương dành cho cô bé bán diêm; 

+ Nỗi buồn đau trước sự thờ ơ, vô cảm của con người; 

+ Cùng nhà văn viết một đoạn kết khác cho câu chuyện; 

+ Kể với nhà văn về một điều tốt đẹp mà câu chuyện mang đến cho em. 

Đoạn văn tham khảo:

Thân gửi nhà văn An-đéc-xen. Đã hơn một thế kỉ trôi qua kể từ ngày ông viết truyện ngắn “Cô bé bán diêm”, nhưng người đọc trên khắp hành tinh này, nhất là những bạn nhỏ vẫn luôn nghe văng vẳng đâu đây lời nguyện cầu tội nghiệp của cô bé. Ước mơ của cô bé trong câu chuyện là được sống mãi bên bà trong tình yêu thương, muốn thoát khỏi cảnh đói rét, đau khổ. Thực tế, cô bé đã chết rét, chết đói trong đêm giao thừa giữa khu phố với những ngôi nhà ngập tràn ánh sáng. Nhưng dưới ngòi bút yêu thương, chứa chan sự đồng cảm của ông, người đọc vẫn cảm giác rằng cô bé tội nghiệp ấy không chết. Em đang đi vào một thế giới khác, hạnh phúc và yêu thương hơn.

Kính gửi nhà văn Andersen, những dòng chữ của ông về số phận cô bé bán diêm vẫn luôn để lại trong lòng cháu một nỗi buồn man mác nhưng cũng đầy chất thơ. Cháu muốn cảm ơn ông vì đã không tô hồng hiện thực nghiệt ngã, giúp chúng cháu hiểu được giá trị của sự sẻ chia và lòng trắc ẩn trong xã hội bộn bề. Dù kết thúc truyện là sự ra đi của em bé giữa đêm đông giá rét, nhưng qua ngòi bút nhân văn của ông, đó không phải là cái chết bi lụy mà là một sự giải thoát, một hành trình bay về phía ánh sáng và tình yêu thương của bà. Hình ảnh những que diêm rực cháy chính là biểu tượng của hy vọng và khát khao hạnh phúc mà ông đã thắp lên trong tâm hồn bao thế hệ độc giả. Tác phẩm của ông nhắc nhở chúng cháu rằng, giữa thế gian lạnh lẽo, chỉ có ngọn lửa của tình người mới có thể sưởi ấm được những mảnh đời bất hạnh.